In Retrospect – Nhìn lại

17

In Retrospect – Nhìn Lại

Của cha và con Steinbeck giữa Chiến tranh Việt Nam

JOHN STEINBECK, NOBEL VĂN CHƯƠNG 1962

Giải Nobel Văn chương 1962 được trao cho toàn sự nghiệp của John Steinbeck; nhà văn Mỹ thứ 6 được giải Nobel tiếp theo sau Ernest Hemingway 1954 [photo from the Nobel Foundation archive]
Sinh ngày 27/02/1902 tại Salinas, miền trung California. Sống và lớn lên trong một vùng thung lũng đồng quê xanh tươi, còn được gọi là “Salad Bowl” với dòng sông Salinas. Xong trung học (1919), có ước vọng viết văn, Steinbeck ghi tên học môn Văn chương Anh và cả lớp Viết văn / Creative writings tại Đại học danh tiếng Stanford, Palo Alto. Năm 1923, Steinbeck ghi tên học thêm môn Sinh Học / Biology tại Hopkins Marine Station, tại đây Steinbeck quen biết với William E. Ritter và quan tâm nhiều hơn tới Môi sinh / Ecology. Do theo học thất thường, ông rời Stanford 6 năm sau (1925) và không có một học vị nào. Steinbeck quyết định sang New York lập nghiệp, ông làm đủ loại công việc lao động tay chân để kiếm sống và tập sự làm báo, viết văn nhưng không thành công, không nhà xuất bản nào nhận in cuốn sách đầu tay của ông.

 

Trở về California 3 năm sau (1928), Steinbeck cũng làm đủ mọi nghề, kể cả hướng dẫn du lịch ở Lake Tahoe, nhưng vẫn túng quẫn. Ông dọn về sống trong căn nhà nhỏ của cha ở vùng bán đảo Monterey; không phải trả tiền nhà lại được người anh giúp đỡ, không bận bịu mưu sinh, ông tập trung  viết văn. Nhưng cuộc sống lại chật vật khi cả nước Mỹ bước vào thời kỳ Đại Suy Thoái. Steinbeck mua được một chiếc tàu nhỏ, thử sống bằng nghề đánh cá ven biển, cá cua lưới bắt được cũng là nguồn thực phẩm cho gia đình, còn rau tươi thì hái lượm ngay trong vườn nhà; vẫn không đủ sống, vợ chồng ông phải sống bằng tiền trợ cấp xã hội / welfare.

Tuy vẫn viết nhưng Steinbeck chưa gây được tiếng vang nào. Phải mãi tới 7 năm sau (1935), với cuốn Tortilla Flat tên tuổi ông mới được biết tới. Lấy bối cảnh là vùng Monterey, California nơi ông sinh sống, thời gian sau Thế chiến I, mô tả đời sống của đám dân quê / paisanos nghèo khổ, sống bầy đàn, chỉ biết hưởng thụ với rượu, ham muốn xác thịt / lust, và trộm cắp vặt / petty theft. Họ là nạn nhân của hoàn cảnh lịch sử. Tortilla Flat bắt đầu được giới phê bình đón nhận và cả thành công về tài chánh.

Tiếp theo 2 năm sau, là cuốn Của Chuột và Người (Of Mice and Men,1937), “là một bi kịch của hai nông dân tha phương cầu thực với giấc mơ có được một mái nhà, một mảnh vườn nhưng rồi vẫn phải sống một cuộc đời làm công lang thang khổ cực. George Milton nhỏ con nhưng khôn lanh và gã kia là Lennie Small, tuy có tên “Small” nhưng lại to xác rất mạnh và đần độn, tính khí dữ dằn bất thường khiến hắn phải lệ thuộc vào George trong sinh hoạt khó khăn hàng ngày – tác phẩm chỉ với hơn 100 trang sách mà sau này được Hội đồng giải Nobel văn chương 1962 gọi đó là một “tiểu tuyệt phẩm / a little masterpiece”.

Rồi tới Chùm Nho Uất Hận (The Grapes of Wrath, 1939), kể chuyện về một gia đình nông dân Joad từ vùng Oklahoma, do một thảm nạn môi sinh Dust Bowl mất hết trang trại đất đai phải rời bỏ quê nhà di cư sang California, vùng đất của “sữa và mật ngọt” để mưu tìm cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng rồi họ đã phải đối đầu với vô vàn khó khăn, không có công ăn việc làm, tiền công thì quá thấp và rơi vào cảnh nghèo khó hơn. Cuốn sách được Steinbeck viết bằng một ngôn ngữ trần trụi / plain spoken language giàu hình ảnh, tố cáo lòng tham của đám chủ trại giàu có, đưa tới những bất công xã hội. Thái độ phê phán đó khiến Steinbeck trở thành khuôn mặt khó ưa ngay nơi quê nhà. Nhóm nghiên cứu Đại học Stanford, mới đây đã đánh giá Steinbeck như một nhà văn của môi sinh.[9]

Năm 1940, Steinbeck được giải thưởng National Book Award với cuốn Chùm Nho Uất Hận. Tác phẩm này cũng nhận được thêm một giải Pulitzer danh giá khác. Cuốn sách liên tục được tái bản.

Cả hai cuốn Của Chuột và Người Chùm Nho Uất Hận được viết trong bối cảnh thời kỳ Suy Thoái của thập niên 1930s, là 2 tác phẩm đỉnh cao trong văn học Mỹ được coi là tuyệt tác của John Steinbeck. Cả hai đều được chuyển thể thành phim. Henry Fonda đóng vai Tom Joad trong Chùm Nho Uất Hận đã được đề cử là tài tử xuất sắc nhất cho giải Academy Award.

Tuy thành công nhưng Chùm Nho Uất Hận cũng gây ra nhiều dư luận bất lợi cho Steinbeck, do khuynh hướng xã hội triệt để – Steinbeck bị gán cho là thiên cộng / suspected communist leanings, do mạnh mẽ bênh vực tầng lớp lao động cơ cực bị bóc lột bởi một giới tư bản giàu có, đầy quyền lực  sở hữu phần lớn đất đai và các trang trại, cùng liên kết với nhóm tài phiệt chủ các ngân hàng. Chùm Nho Uất Hận xuất bản lần đầu tháng 04/1939 và trở thành cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ nhưng ngay nơi quê nhà, cuốn sách bị lên án là “tục tĩu / obscene, trình bày sai sự thực / misrepresented” với những mô tả tiêu cực về đời sống di dân tới California.

Cuốn sách hai lần bị đốt công khai ở Salinas. W.B. “Camp” viên chủ nhân giàu có với các trang trại trồng bông và khoai tây, khi tới chủ toạ buổi đốt sách ở thị trấn Bakersfield đã tuyên bố: “Chúng ta giận dữ không phải vì bị ai đó tấn công, nhưng chúng ta đã bị tấn công bởi một cuốn sách tục tĩu theo cái ý nghĩa tệ hại nhất của từ ngữ này – a book obscene in the extreme sense of the word.” Nhưng lúc đó cũng có người can đảm như  Gretchen Knief, trông coi thư viện Kern County, cô không sợ bị đuổi việc vẫn lên tiếng cảnh báo: “Nếu cuốn sách ấy bị cấm hôm nay, liệu sẽ có thêm cuốn sách nào bị cấm ngày mai?”  

Chùm Nho Uất Hận bị Kern County Board cấm trong các trường học và thư viện (1939), và chỉ được giải toả hai năm sau đó (1941).  

Trong Thế chiến Thứ II, Steinbeck có thời gian làm phóng viên chiến tranh cho tờ New York Herald Tribune (1943), đi sát theo các đơn vị xung kích đổ bộ tấn công quân Đức ở Ý, trên các hải đảo Địa Trung Hải. Steinbeck bị thương trở về với cả chấn thương tâm lý; ông tự vượt qua bằng miệt mài trong viết lách.

Năm 1947, Steinbeck là một trong số những người Mỹ hiếm hoi đầu tiên được đi thăm Liên bang Xô Viết sau Cách mạng Nga, cùng đi với ông có  phóng viên nhiếp ảnh Robert Capa. Cuốn sách Nhật Ký Nga / A Russian Journal được xuất bản một năm sau (1948) với phần hình ảnh của Capa. Chính quyền Cộng sản Xô Viết lúc đó đánh giá Steinbeck như một “nhà văn Mỹ tiến bộ – American progressive writer” với cái nghĩa tả khuynh theo chủ nghĩa xã hội.  

Trong cùng năm, Steinbeck được bầu vào Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật và Văn Học Hoa Kỳ / American Academy of Arts and Letters.

Năm 1952, tiểu thuyết trường thiên Phía Đông Vườn Địa Đàng / East of Eden được xuất bản, Steinbeck coi đó là tác phẩm lớn nhất của ông (magnum opus), sau này lên phim (1955) với James Dean, một tên tuổi điện ảnh trẻ tài năng trong vai Cal Trask.

Năm 1961, Steinbeck cho xuất bản Mùa Đông Bất Bình / The Winter of Our Discontent, viết về sự suy đồi đạo lý của nước Mỹ, và không được giới phê bình đánh giá là một thành công.

Năm 1962, trong sự ngạc nhiên của chính Steinbeck, ông được trao giải Nobel văn chương cho toàn sự nghiệp văn học, “do những trang sách viết trộn lẫn hiện thực và tưởng tượng, kết hợp sự u mặc tinh tế và ý thức xã hội sắc bén – for his realistic and imaginative writings, combining as they do sympathetic humour and keen social perception”. Các nhân vật của ông đều là nạn nhân của lịch sử, của thời kỳ suy thoái. Giải Nobel trao cho Steinbeck lúc đó đã bị báo chí Thuỵ Điển chỉ trích nặng nề, ngay cả tại Mỹ. Nhưng sau này, Steinbeck được mệnh danh là “gã khổng lồ của văn giới Mỹ – a giant of American letters”, với một số tác phẩm được xem như văn học cổ điển Tây phương”.   

Cũng thật trớ trêu, tuy đã là khôi nguyên của giải văn chương Nobel, nhưng theo Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ / American Library Association, thì Steinbeck là một trong số 10 tác giả từng bị cấm đoán và chỉ trong khoảng thời gian từ 1990 tới 2004, riêng cuốn Of Mice and Men xếp hàng thứ 6 trong số 100 cuốn bị cấm ở Mỹ.

Năm 1964, Steinbeck được Huân chương Tự do của Tổng Thống / Presidential Medal of Freedom, từ TT Johnson là bạn ông và Steinbeck cũng đã từng viết diễn văn cho TT Johnson.   

CỦA CHA VÀ CON STEINBECK GIỮA CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

John Steinbeck có 2 con trai với bà vợ thứ hai Gwyndolyn Conger. Thomas Myles Steinbeck, là con cả sinh năm 1944 và John Ernst Steinbeck IV là con thứ sinh năm 1946. Tới giai đoạn Mỹ tham chiến ở Việt Nam, cả hai con trai Steinbeck đều tới tuổi quân dịch và bị động viên.

Khi John IV, đứa con thứ 2, vừa xong lớp tập huấn quân sự và sắp lên đường sang Việt Nam, Steinbeck hãnh diện dẫn con tới thăm và bắt tay TT Lyndon B. Johnson tại Oval Office, White House. John IV, tới Việt Nam trong vai trò phóng viên chiến tranh, làm cho đài phát thanh và truyền hình quân đội Mỹ trấn đóng ở Pleiku. Rồi tới đứa con trai cả Thomas Myles Steinbeck cũng nhập ngũ trấn đóng ở Fort Ord, California và có thể cũng sẽ phải sang Việt Nam.

Khi Mỹ quyết định ồ ạt đưa quân qua tham chiến ở Việt Nam (1965), Steinbeck tuy không còn trẻ nữa ở tuổi 64, giữa cao điểm cuộc chiến tranh đang leo thang, ông có ý định sang thăm Đông Nam Á trong vòng 5 tháng. Steinbeck không xa lạ gì với chiến tranh, từng là phóng viên chiến tranh trong Thế chiến II. Lần này Steinbeck đến Việt Nam, vẫn như một phóng viên chiến tranh, cho tờ báo Newsday, Long Island, New York. John Steinbeck đã đi khắp miền Nam Việt Nam, trong vòng 6 tuần lễ, [ từ tháng 12.1966 tới đầu năm 1967].

trái,John E. Steinbeck và con trai John IV 19 tuổi tới thăm và bắt tay Tổng thống Lyndon B. Johnson tại Oval Office, White House ngày thứ Hai 16/ 05/ 1966 trước khi lên đường sang Việt Nam. Steinbeck là bạn của Tổng thống Johnson  từ 1963. Cuộc gặp gỡ 4 phút theo yêu cầu của Steinbeck. [nguồn: tài liệu LBJ Library and Museum]; phải: John IV ở Việt Nam 1966. Cả ba nhân vật nay đã là “người của trăm năm cũ”.
Từ lâu, Steinbeck đã có thái độ khinh mạn các nhóm phản chiến, xem họ như thành phần bạc nhược khi so sánh với những người lính Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam. Ông không chỉ lên án họ, Steinbeck còn có ý tưởng kỳ lạ là phải đem bọn phản chiến này thả vào đường mòn Hồ Chí Minh để xem bọn chúng sống ra sao.

Do danh tiếng của Steinbeck với giải Nobel và cả mối liên hệ quen biết với TT Johnson, Steinbeck được đối xử rất đặc biệt, di chuyển với máy bay riêng thường cùng đi với cấp chỉ huy quân sự cao cấp Mỹ, kể cả với tướng William Westmoreland, và Steinbeck cũng thường xuyên được “briefing – tường trình” về tình hình chiến sự với bức tranh màu hồng về tương lai thắng lợi của Mỹ ở Việt Nam.

Thường là ban ngày có mặt nơi chiến trường, nếu không quá xa Sài Gòn và không phải ở lại qua đêm, buổi tối Steinbeck trở về khách sạn Caravelle, dùng bữa tối trong một nhà hàng sang trọng trên lầu 9, từ nơi đây vẫn có thể thấy ánh hoả châu và cả tiếng trọng pháo từ xa vọng về. Những Lá Thư gửi Alicia / Letters to Alicia được viết ở đây. [Alicia Patterson – là tên người vợ của Harry Guggenheim, đồng sáng lập tờ Newsday, Alicia là nhà báo tên tuổi, được giải thưởng báo chí Pulitzer, nhưng Alicia đã chết trước đó 3 năm].  

Đặt chân tới Việt Nam, ngay từ đầu, Steinbeck bị mê hoặc với những vũ khí tối tân của quân đội Mỹ, điều mà ông chưa từng được thấy trong Thế chiến thứ II. Như khi ông chứng kiến những chiếc máy bay DC3 “Hoả Long –Puff the Magic Dragon”  trang bị những cỗ đại liên với hoả lực khủng khiếp, chỉ trong vòng vài giây có thể nhả đạn 50-ly bao trùm khắp một sân banh rộng lớn khi lâm trận như một con rồng phun lửa. Steinbeck rất chủ quan cho rằng, “với trang bị vũ khí tối tân như vậy làm sao mà Mỹ có thể thua cuộc chiến tranh trước đám địch quân quê mùa ấy.”

Steinbeck cũng từng đeo súng M-16 ra bãi tập bắn. Có điều mà Steinbeck không được cho biết là, khác với khẩu AK của VC, súng M-16 trang bị cho lính Mỹ lúc đó thường bị hóc đạn ngoài trận địa; scandals chết người đó đã không bao giờ được Steinbeck ghi lại trong những lá thư viết từ Việt Nam cho tờ Newsday. 

Chỉ 6 tuần lễ sống trong vùng chiến, được bảo vệ an toàn, làm sao John Steinbeck hiểu được rằng: quân cộng sản Bắc Việt lúc ấy cũng đã được trang bị với những vũ khí tối tân nhất của Liên Xô và Trung Quốc, và ngay ở lãnh thổ miền Bắc lúc đó đã có hàng sư đoàn quân chí nguyện Trung Quốc giả dạng quân Bắc Việt với những dàn hoả tiễn phòng không tối tân sẵn sàng nghênh chiến với hàng đoàn phản lực cơ Thần Sấm từ Hạm đội 7 bay vào oanh tạc miền Bắc.[6] 

Sự kiện lớn lao và quan trọng như vậy mà trong bộ chính sử mới nhất của Hà Nội cho đến nay vẫn còn giấu giếm, đó là trong cuộc chiến tranh để đối phó với Mỹ và miền Nam, giữa giai đoạn 1965 và 1970, thể theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông đã đưa sang miền Bắc VN 320.000 Hồng quân Trung Cộng. Tới 1968, Mao đưa thêm sang Lào 110.000 quân nữa (tổng cộng: 430.000 quân). Những sư đoàn “chí nguyện quân” ấy đã ẩn náu ở rất nhiều nơi trong các hang động như ở Lạng Sơn, Hà Nam, hay sống trong các khu rừng biệt lập, sinh hoạt kín đáo và không được phép tiếp xúc với dân chúng. [6B]

trái, Rồng Ẩn Trong Rừng: Quân đội Trung Quốc (hay còn gọi là Chí nguyện quân Trung Quốc) trong chiến tranh Việt Nam. Xiaobing Li / Lý Tiểu Bình; Oxford University Press 2020 [6A]; giữa: bản đồ ghi những vị trí Hồng Quân Trung Quốc trấn đóng ở Bắc Việt Nam và Lào trong chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1965-1970. [6B] phải, bìa Lịch Sử Việt Nam Tập 13 xuất bản năm 2017 của Viện Sử Học, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam giai đoạn từ 1965 tới 1975, suốt 2 trang từ 125 -126 đã  hoàn toàn “giấu giếm” sự kiện lịch sử trọng đại này. Một bộ sử Việt Nam trung thực sẽ phải là một công trình với hùng tâm của Thế hệ Việt Nam thứ II. [tư liệu Từ Mai Trần Huy Bích]  
Nhiều chi tiết về “đạo quân ma” ấy cũng được viết ra trong cuốn The Dragon in the Jungle, The Chinese Army in the Vietnam War của Lý Tiểu Bình / Xiaobing Li do Oxford University Press xuất bản 2020. [4] Đến nay (2021) vẫn còn tìm thấy những khu hang động trong núi rừng miền Bắc đã bỏ hoang ấy với các khẩu hiệu chữ Hán lưu dấu  trên vách đá như: Trung Việt hữu nghị vạn tuế, Hồ chủ tịch vạn tuế, Đả đảo Mỹ đế. [8]

Steinbeck được xem như phe “diều hâu / hawk” công khai ủng hộ sự tham chiến  của quân đội Mỹ ở Việt Nam mà ông coi đó một cuộc dấn thân anh hùng / heroic venture, thái độ hiếu chiến của Steinbeck đã gây nhiều phản cảm trong công luận Mỹ và ngay chính trong  gia đình ông lúc bấy giờ. Ở Mỹ, Steinbeck lúc đó không chỉ bị căm ghét bởi giới trí thức cánh hữu, ngay cả phe tả có người không ngần ngại gọi ông là “phản bội / betrayal”. [2]

 

trái, “Diều hâu Steinbeck” với súng nón sắt và áo giáp trong hầm cá nhân /  foxhole trên một trận địa miền Nam Việt Nam. Qua những bức thư viết từ tiền tuyến trên tờ Newsday, Steinbeck công khai ủng hộ sự tham chiến của quân đội Mỹ ở Việt Nam. [nguồn: Associated Press ]; phải, John IV con trai Steinbeck (dưới cùng trong hình), ngược với cha, là tiếng nói phản chiến mạnh mẽ, John IV sau này trở thành đệ tử của Ông Đạo Dừa nơi Cồn Phụng trên sông Mekong, Đồng Bằng Sông Cửu Long. [ nguồn: Gale Literature Resource Center ]
John Ernst Steinbeck IV [06/12/1946 – 02/07/1991], hết thời gian quân dịch, được giải ngũ ngày 07/12/1967. Chỉ  một thời gian ngắn về Mỹ, năm 1968 John IV trở lại Việt Nam như một nhà báo với khuynh hướng phản chiến – hoàn toàn đối nghịch với quan điểm của  cha mình. John IV đã hợp tác với Sean Flynn  [con của tài tử Errol Flynn] cùng làm tại Dispatch News Service, cung cấp cho truyền thông Mỹ những thông tin một chiều hết sức bất lợi cho Washington như vụ Thảm sát Mỹ Lai, câu chuyện Chuồng Cọp của trại giam Côn Sơn…

Trong khi John Steinbeck Cha vẫn còn sống, ngày 05/03/1968, sau Tết Mậu Thân, John IV đã ra điều trần trước một Uỷ ban Thượng viện Mỹ, nói ra những điều mà không một chính giới Hoa Kỳ nào muốn nghe, rằng: có tới 60% lính Mỹ tuổi từ 19 tới 27 nghiện cần sa / Marijuana, và chính cơ quan MACV cũng khuyến khích tình trạng nghiện ngập này bằng cách cung cấp thuốc gây nghiện như Amphetamines / hay còn được gọi là pep pills cho lính Mỹ. Như một scandal trên báo chí lúc bấy giờ, và đã có một đụng độ công khai giữa Pentagon và John IV.

Chính con trai Steinbeck, từng phục vụ tại Việt Nam cũng chống lại cha, John IV ra điều trần trước một tiểu ban Thượng viện cho rằng “cuộc chiến Việt Nam là một sai lầm, lính Mỹ thì nghiện ngập, báo cáo số thương vong thì sai sự thật, đó là một tình trạng hỗn mang / a mess, và chúng ta cần thoát ra.” Importance of being Stoned in Vietnam, Steinbeck’s Son, Pentagon Clash Over Soldiers’ Pot Use. Trang A4 báo Independent AM Press-Telegram PM [Long Beach, California Thursday 28.12.1967]. [2]
Sự phân hoá “Của Cha và Con – Of Father and Son” trong gia đình Steinbeck, cũng là hình ảnh bi kịch phân hoá của nước Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.

Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War” [1] (University of Virginia Press, 2012), có thể xem là những trang sách cuối đời gây chấn động của Steinbeck khi ông đã bước vào tuổi 64.

John Steinbeck được chẩn đoán có bệnh nghẽn mạch tim nhưng từ chối một cuộc mổ tim [ heart bypass surgery ]. Ông mất tại New York ngày 20/12/1968, giữa  một trận đại dịch cúm (1968 flu pandemic) nhưng do suy tim, và ông cũng là người nghiện thuốc lá trong nhiều năm.

STEINBECK VÀ MỘT THOÁNG VIỆT NAM

An Khê, Việt Nam 22/12/1966

An Khê là thị xã của tỉnh Gia Lai trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam, nằm bên Quốc lộ 19 giữa Pleiku và Qui Nhơn. An Khê có giá trị chiến lược quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ tháng 8/1965 Mỹ đã xây dựng trại Radcliff, là căn cứ chính của Sư đoàn Kỵ Binh Số 1 / US 1st Cavalry Division. Radcliff chỉ được trao lại cho Việt Nam vào cuối năm 1970 khi có chính sách Việt Nam hoá cuộc chiến tranh, chuẩn bị cho Mỹ rút khỏi Việt Nam. 

Trước Giáng Sinh 2 ngày [22/12/1966], Steinbeck đã tới thăm căn cứ An Khê. Với hào quang của giải Nobel văn học, Steinbeck trông phong trần ở tuổi 64, trong bộ áo lính GI’s, buổi tối ngồi trên một chiếc thùng gỗ vây quanh là đám lính trẻ quân dịch / enlisted men, lứa tuổi con ông, nao nức tới gặp và nghe ông nói. Bằng ngôn ngữ bộc bạch, Steinbeck tâm sự: “Sáu tháng trước, tôi rất buồn vì 2 đứa con trai tôi bị động viên. Nhưng rồi 6 tháng sau, bởi Chúa / by God! Tôi hãnh diện vì chúng đã nên người. Đàn ông trai tráng thực sự là những giá trị hôm nay / valuable things today.”  Con trai ông John IV thì đang đóng ở Pleiku; một đứa khác cũng trong quân ngũ đóng ở Fort Ord, Monterey California.

Có lần được phóng viên một tờ báo hỏi: Có phải Mỹ đang bị kẹt / locked in trong một cuộc chiến vô vọng không? Steinbeck nói: “Đó là một câu hỏi hài hước nhất,” ông tiếp: “Mọi cuộc chiến tranh đều vô vọng nhưng là cần thiết, và cuộc chiến tranh này cũng là cần thiết.”

Steinbeck cho biết ông tới đây để viết về cuộc chiến tranh, chủ yếu là những cảm tưởng của ông về cuộc chiến này.

John Steinbeck vẻ già nua mỏi mệt ngồi trong doanh trại Radcliff, An Khê nói chuyện với đám binh lính quân dịch Mỹ lứa tuổi con trai ông, vào buổi tối 2 ngày trước Giáng Sinh, 22/12/1966. [nguồn: Ray Belford / Stars and Stripes]
Trong cuộc gặp gỡ, John Steinbeck trả lời mọi câu hỏi của đám GI’s về cuộc đời trải qua của ông nếu như không quá riêng tư. Rằng ông cũng đã từng làm phu bến tàu / longshoreman, sống với nông dân, lao động làm thuê hái bông / picked cotton. Có cả những chi tiết thú vị như toàn bộ tác phẩm của ông đều được viết tay / written in longhand chứ ông không đánh máy.

“Có những câu hỏi của các bạn mà tôi chưa từng trả lời cho ai, nhưng tôi ngưỡng mộ những gì các bạn đang làm ở đây và đáng cho tôi kính trọng”. Ngồi nói chuyện suốt hai tiếng đồng hồ, với 2 ly cà phê, cũng đã thấm mệt, Steinbeck phải xin lỗi đám lính trẻ đang say sưa nghe ông nói, để đi ngủ. Cảm tưởng của một tân binh có mặt trong suốt buổi nói chuyện của  Steinbeck, có thể tóm gọn trong một câu: “He just seems to radiate greatness / Ông ấy thực lớn lao toả sáng.” [3]

Pleiku, Việt Nam 07/01/1967

 

Hình 7: Ngày 7/01/1967, nhà văn John Steinbeck trên chuyến bay quan sát  cuộc chiến Việt Nam từ một chiếc trực thăng UH-1B “Huey”, thuộc Trung Đoàn Không Kỵ 10 đồn trú tại Pleiku, bên cạnh ông là viên xạ thủ khẩu đại liên M60 7.62 mm. Mấy ngày sau sau Tết Mậu Thân, Thomas Myles Steinbeck con trai cả của Steinbeck cũng bị đưa sang Việt Nam và từng là một xạ thủ đại liên trực thăng.  [nguồn: Associated Press]
Ngày 7/01/1967, trong chuyến thăm Pleiku, John Steinbeck từ   trên một chiếc trực thăng UH-1B Huey quan sát  cuộc chiến Việt Nam. Ông đã không tiếc lời ca ngợi toán phi công trực thăng: “Họ lái những con tàu giống như các kỵ sĩ điều khiển con ngựa đua của họ. Họ uốn lượn dọc theo những con suối, bay bổng trên đỉnh cây như những cánh chim én, quay vòng và nhào xuống nhanh như cắt trong buổi chiều. Tôi quan sát đôi bàn tay họ nơi phòng lái, rất nhịp nhàng và phối hợp như đôi bàn tay của nhạc sĩ Pablo Casals trên chiếc đàn trung hồ cầm / cello. Chắc bạn còn nhớ giấc mơ hồi trẻ nhỏ là được tự do bay bổng và cảm giác tuyệt vời như thế nào. Cảnh tượng bây giờ giống như vậy, nhưng đôi bàn tay tôi thì đã già và lú lẫn để theo lệnh, bảo phải bay vút lên / updrafts và cắt ngang / side winds, né tránh hoả lực từ dưới đất / ground fire báo hiệu bằng một nháng lửa / tiny puff or flash, hay một va chạm / a hit và tất cả phải tức thời và tự động. Và tôi chỉ biết ngưỡng mộ và có niềm vui được ngắm nhìn họ.” [1]

 

 STEINBECK VÀ 2 CUỘC GẶP GỠ CHƯA GHI LẠI

Cần Thơ, Việt Nam, Ngày…  Tháng 12 Năm 1966                               

BS Hoàng Ngọc Khôi, YKSG 1960:

Khi John Steinbeck được giải Nobel văn chương 1962, tôi – Hoàng Ngọc Khôi và anh DS Nguyễn Phúc Bửu Tập đang làm tại Trường Quân Y và cùng phụ trách tờ Tập San Quân Y (TSQY). Anh Bửu Tập mua được cuốn Of Mice and Men (OMAM), đọc xong đưa cho tôi đọc. Khi trả lại, Bửu Tập bảo: Hay là chúng mình dịch rồi đăng vào Tập San. Chúng tôi bắt đầu dịch và cho đăng vào TSQY khoảng giữa năm 1963, dựa theo cuốn tiếng Anh OMAM nhưng vẫn có thêm cuốn tiếng Pháp Des souris et des hommes để tham khảo. Nhà văn Trần Phong Giao, lúc đó là Thư ký Tạp chí Văn, tình cờ đọc được vội tìm hai chúng tôi đặt cọc là khi viết xong giao cho Tạp chí Văn xuất bản. Tôi không biết Nxb Văn có liên lạc với John Steinbeck hay không, nhưng hình như hồi đó chưa có thoả hiệp về tác quyền giữa hai nước.

Khi Steinbeck sang Việt Nam thì tôi đang làm Y sĩ trưởng Quân y viện Trương Bá Hân tại Sóc Trăng. Lúc đó, có một Đại úy cố vấn Mỹ thuộc Cục IV Tiếp Vận phụ trách tiếp vận cho Quân y viện TBH cứ khoảng hai tháng lại tới kiểm tra xem QYV có nhu cầu gì không và không hiểu sao ông ta lại biết tôi có dịch cuốn OMAM.

Bỗng một hôm, cuối năm 66 hay đầu năm 67 gì đó, cũng viên Đại uý cố vấn ấy (mà nay tôi quên mất tên) bay trực thăng ghé thăm QYV bảo tôi là John Steinbeck đang ở Cần Thơ và có hẹn gặp ông ta ngày mai đi uống cà phê trưa từ 2 tới 3 giờ chiều và hỏi tôi có muốn gặp Steinbeck không?  Ông bảo tôi có thể lên ngay trực thăng đi cùng nhưng khi về phải tự lo. Tôi mừng quá nhưng trả lời sáng mai tôi sẽ lấy xe Jeep đi và về cho tiện vì từ Sóc Trăng sang Cần Thơ chỉ khoảng hơn một giờ lái xe.

Hôm sau đúng giờ, viên đại uý Mỹ đã đợi tôi tại QYV Phan Thanh Giản, Cần Thơ và rồi ông chở tôi tới một câu lạc bộ sĩ quan Mỹ. Tới nơi thì Steinbeck cũng vừa tới, ông ta mặc đồ như một quân nhân tác chiến, có khoác cả áo giáp, có bộ râu lẫn ria cắt tỉa gọn ghẽ. Khi gặp Steinbeck tôi còn là Y sĩ Đại uý, ông ta gọi tôi là Doctor và hỏi tôi có sang Mỹ bao giờ chưa và sao lại chọn dịch cuốn sách OMAM của ông? Tôi nói tôi đã sang Mỹ hai lần rồi và lần nào tôi cũng muốn mau trở về vì nhớ quê nhà và bằng hữu. Ông cười bảo vậy đúng là điều ông muốn nói trong cuốn truyện rồi, ước vọng sao có một mảnh đất, một khu vườn và ngày ngày gặp bạn bè tán gẫu với nhau. Tôi mang theo hai cuốn truyện dịch, một cuốn OMAM và một cuốn Des souris et des hommes để ông ký cho tôi và Bửu Tập, còn tôi cũng tặng ông một cuốn truyện dịch Của Chuột và Người. Tôi chỉ được viên Đại uý cố vấn nhường cho nửa giờ nên tôi chỉ hỏi ông một câu duy nhất là ông có dự tính gặp một nhà văn Việt Nam nào không? Ông trả lời chuyến đi này của ông không có liên quan gì tới văn chương cả, mà là quan sát tại chỗ về tình hình miền Nam xem có cơ thắng trận hay không. Hôm đó viên Đại uý cố vấn có chụp cho tôi với John Steinbeck một tấm hình polaroid lấy liền. Nửa giờ quá ngắn ngủi và Steinbeck chỉ ở VN có sáu tuần mà phải đi khắp 4 vùng chiến thuật và viết bài hàng ngày cho tờ báo Newsday mà ông là đặc phái viên. Steinbeck ủng hộ Mỹ đem quân tới VN để chống sự bành trướng của CS và rất ghét nhóm phản chiến. Ngược lại con ông, đang phục vụ tại VN trong đoàn Truyền thông quân sự Hoa Kỳ thì lại chống chiến tranh VN. Những bài báo của ông viết từ VN sau được in lại thành một cuốn sách: John Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the war. Và anh cũng đã biết rồi.

trái, Of Mice and Men, của John Steinbeck bản tiếng Anh; giữa: Des souris et des hommes bản tiếng Pháp; phải: Của Chuột và Người, bản dịch của Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập, Nxb Văn Sài Gòn 1967. Từ sau 1975, bản tiếng Việt này đã được tái bản nhiều lần ở Việt Nam.

Đêm 29/04/1975 do tôi di tản nhờ tàu Hải quân rất bất ngờ nên đã không mang theo được gì. Sau 1975 có người nhà bên Việt Nam gửi cho tôi cuốn Của Chuột và Người do Hội Nhà Văn in lại và đây là lần xuất bản thứ hai, đề năm 1997. Cuối sách có lời viết như sau: Chúng tôi đã nhiều lần liên lạc với các ông Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập. Rất tiếc cho đến nay chúng tôi vẫn không nhận được tin tức cụ thể từ hai dịch giả. Sau đó bên nhà lại gửi cho cuốn Của Chuột và Người nhưng lần này do nhà Xuất bản Văn Học ấn hành năm 2001. Và tôi nghe nói cuốn truyện được tái bản nhiều lần vì được dùng làm tài liệu tham khảo trong các trường Đại học về môn Anh ngữ. Người bạn cùng dịch sách OMAM với tôi, DS Nguyễn Phúc Bửu Tập,  thì nay cũng đã mất [1930-2020]. BS Hoàng Ngọc Khôi, Toronto, Email ngày 21.03.2021

Tây Ninh, Việt Nam, Ngày…  Tháng 01 Năm 1967

BS Trần Văn Khánh, YKSG 1965

BS Khánh nguyên cựu nội trú các bệnh viện, anh là bạn đồng khoá YKSG 1965 và rất  thân với Nghiêm Sỹ Tuấn, trong Ban Quan Điểm báo SVYK Tình Thương. Ra trường bị động viên với cấp bậc Y sĩ Trung uý, là bác sĩ chuyên khoa giải phẫu thần kinh / neurosurgeon hiếm hoi, anh được bổ nhiệm về làm trưởng khoa Giải Phẫu QYV Tây Ninh. Anh Khánh kể: Giai đoạn ấy, do đụng độ hai bên thương vong nhiều, ngày đêm tôi làm việc trong Quân y viện và cả sang giúp bên Dân y viện! Tôi mổ đủ thứ; có thể tưởng tượng tôi đã làm cả giải phẫu thần kinh Stellectomie, với những dụng cụ dã chiến!

Tôi có diễm phúc gặp văn hào John Steinbeck tại Tây Ninh năm 1967, không nhớ rõ ngày tháng trong một dịp bất ngờ khó tin! Như một “duyên khởi” vào một buổi sáng sau vòng thăm các bệnh nhân sau mổ, rất tình cờ tôi gặp nhóm người Mỹ trên một xe Jeep chạy vào Quân y viện, hai người đàn ông và một phụ nữ. Họ cần có nước rửa tay và khu vệ sinh. Trong đám người ấy, tôi nhận ra ngay nhà văn Steinbeck qua chùm râu và ria mép trên khuôn mặt nông dân của ông ấy. Steinbeck trông phong trần trong bộ quân phục GI’s với cả áo giáp và nón sắt. 

Qua vài câu trao đổi, Steinbeck quá đỗi ngạc nhiên khi có một người bản xứ xa lạ nói tiếng Anh lưu loát và nhận ra mình; hơn thế nữa anh ta còn là độc giả từ bao năm của ông. Khánh nhắc tới cuốn sách The Grapes of Wrath, nhắc tới cảnh tượng một người mẹ vừa sẩy thai đã cố gắng cứu sống một người đàn ông sắp chết đói và cho ông ta bú bầu sữa từ chính nơi ngực mình. Khánh nói với Steinbeck, trang sách cuối ấy không chỉ vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng và cả tuyệt đẹp, đã đọc rồi không sao có thể quên.

Chỉ bấy nhiêu thôi, Steinbeck đã hoàn toàn bị chinh phục. Steinbeck thân thiết mời Khánh – mà ông gọi là “young man” lên chuyến xe Jeep cùng ông trong chuyến thăm đi một trại Lực Lượng Đặc Biệt không xa chân núi Bà Đen mà lính Mỹ gọi đó là Black Virgin Mountain, cũng là nơi mà Steinbeck tưởng như đó là điểm cuối của con đường mòn Hồ Chí Minh.

Ấn tượng sâu đậm nhất nơi Khánh: Steinbeck nói nhiều như là một war advocate / bênh vực chiến tranh, ông tin rằng với vũ khí tối tân như hiện nay Mỹ sẽ thắng đám lính VC hỗn tạp và cả quê mùa. Trong khi đó thì cô Mỹ tóc bạch kim ngồi phía sau – không biết có phải là vợ mới cưới của ông hay không, đi theo làm stenodactylo / tốc ký ghi xuống những điều Steinbeck đang nói.

Không phải là không nhớ, nhưng Khánh không muốn nói nhiều về chuyến field trip ngày hôm ấy với Steinbeck, Khánh coi đó như một chút riêng tư mà Khánh muốn giữ cho riêng Anh. Khánh viết: “Tôi xin được phép không làm nhân chứng lịch sử của một giai đoạn chiến tranh tương tàn mà rốt cuộc miền Nam bị miền Bắc cưỡng chiếm”. Sau này sang Mỹ, Khánh đã có dịp tới thăm The National Steinbeck Center ở Salinas, tới thành phố Carmen, cả ôm pho tượng Steinbeck.  Trần Văn Khánh, Oklahoma, Email: ngày 7 tháng 3,  2021   

MỘT CUỐN SÁCH GÂY TRANH CÃI

“Những bức thư gửi Alicia” trên tờ Newsday được tập hợp trong một cuốn sách có tên là Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War, nhưng rồi đã không được in ra vào thập niên 1960s, do những e ngại danh tiếng của Steinbeck bị thêm tổn thương và mãi tới 44 năm sau khi Steinbeck mất (1968), cuốn sách mới được University of Virginia Press xuất bản (2012), với Thomas Barden giáo sư Đại học Toledo, Ohio từng là cựu chiến binh ở Việt Nam và là một học giả chuyên về Steinbeck viết lời Dẫn NhậpKết Từ cho tác phẩm cuối đời của Steinbeck.

Hình bìa cuốn sách“Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War” đã không ra mắt vào thập niên 1960s, mà mãi tới 44 năm sau khi Steinbeck mất. University of Virginia Press (2012).

Theo Barden, chính TT Johnson cũng muốn Steinbeck tới Việt Nam tường trình tại chỗ những gì đang diễn ra lúc đó. Steinbeck muốn có một chuyến đi độc lập, nhưng qua nội dung các bức thư viết từ chiến trường, rõ ràng Steinbeck có quan điểm ủng hộ cuộc chiến tranh, phản ánh chính sách của TT Johnson lúc đó với chủ thuyết Domino, và tính tất thắng / winnability của Mỹ trong cuộc chiến này. Giữa Cha và Con  Steinbeck đã có đụng độ với cách nhìn khác nhau về cuộc chiến tranh Việt Nam. John IV con trai Steinbeck cho rằng đây là một cuộc chiến sai lầm, “đa số lính Mỹ thì nghiện ngập, con số thương vong thì không chính xác, và rằng chúng ta – người Mỹ phải rút chân ra khỏi cuộc chiến tranh này.”

Sau thời gian ở Việt Nam trở về Mỹ  và trong những trao đổi riêng tư, Steinbeck đã  tỏ ra bất bình về những tin tức sai lạc về cuộc chiến tranh hàng ngày cung cấp cho dân chúng Mỹ. Chính Elaine vợ ông cũng khuyên Steinbeck cần thay đổi cách nhìn về cuộc Chiến tranh Việt Nam, nhưng Steinbeck đã không còn sống lâu hơn để viết thêm gì khác về cuộc chiến tranh ấy.

Đồng ý với John Steinbeck hay không, thì sự nghiệp của ông đã hoàn tất. Tất cả những trang viết của ông trước sau, thì nay vẫn hiện diện trên các kệ sách trong các thư viện và trường học. Sẽ vẫn là một bài học cho các thế hệ tương lai.  

IN RETROSPECT – NHÌN LẠI

Năm 1972, thời gian tôi đi tu nghiệp ở San Francisco về chuyên ngành Y Khoa Phục Hồi, John Steinbeck đã mất trước đó 4 năm (1968). Tiếp sau Lyndon B. Johnson, Richard Nixon là Tổng thống Mỹ, đang theo đuổi chính sách Việt Nam hoá cuộc chiến tranh – mà báo chí Mỹ gọi đó là kế hoạch đổi màu da trên xác chết, chuẩn bị cho Mỹ hoàn toàn rút chân ra khỏi Nam Việt Nam.

Và cũng chưa bao giờ phong trào phản chiến với teach-in, sit-in lên cao và lan rộng ra khắp các đại học trên toàn nước Mỹ như vậy. Nơi sân trường Đại học Berkeley, đám sinh viên “con ông cháu cha” từ miền Nam Việt Nam sang du học Mỹ cũng hoà nhập vào đám phản chiến ấy, chúng mặc bộ áo bà ba đen tổ chức các nhạc hội hát “Quảng Bình Quê Ta ơi” quyên tiền ủng hộ Hà Nội và Mặt trận Giải Phóng. Và ở đâu đó, hai con trai của John Steinbeck cũng đang hoà nhập vào dòng người đó.

Cũng trong năm 1972 và cả sau này, tôi đã hơn một lần tới thăm Monterey, Salinas quê hương của Steinbeck. Steinbeck mất ở New York, tro cốt của ông được đưa về California và chôn cất lặng lẽ trong khu nghĩa trang của gia đình. Ba mươi năm sau khi ông mất, một National Steinbeck Center được khai trương (27/06/1998) nơi thị trấn Salinas, nơi quê hương ông sinh ra.

trên, Trung tâm Quốc gia Steinbeck, [địa chỉ 1 Main Street, Salinas, CA 93901] nơi thị trấn Salinas quê hương của Steinbeck. Trung Tâm Steinbeck được xây dựng và khai trương (1998) 30 năm sau khi ông mất (1968); dưới, câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.
Trong một lần đã tới thăm, điều vẫn còn lưu lại trong trí nhớ là câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng bày nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California.

Bức tượng đồng John Steinbeck, nơi thành phố Monterey, California, quê hương ông

Nhà văn phải tin tưởng rằng điều hắn đang làm là quan trọng nhất trên thế giới. Và hắn phải giữ ảo tưởng ấy cho dù khi biết được điều đó là không thực.”

Dĩ nhiên đây không phải là câu văn hay nhất của Steinbeck nhưng có lẽ phản ánh đúng nhất về cuộc đời 66 năm đầy thăng trầm và cả nghịch lý của Steinbeck mà ông đã bướng bỉnh lựa chọn để đi tới vinh quang và cả đôi khi chống lại chính mình.

 

 

 

 

California 28/03/2021

—————-

THAM KHẢO:

1/ Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War, March 29, 2012 by John Steinbeck  (Author), Thomas E. Barden (Editor)

2/ Steinbeck In Vietnam: A Great Writer’s Last Reports, April 21, 2012, 6:25 AM  

 3/ War hopeless but necessary, Steinbeck says. Ray Belford, The Stars and Stripes Archives, December 22, 1966 

4/ John Steinbeck, despised and dismissed by the right and the left, was a real American radical. America’s Best Hated Author by Eric Johnson. Aug 5, 2004 

 5/ John Steinbeck IV and the Coconut Monk. Alison Teal, Contributor 04/09/2014, HuffPost

6/ (A) The Dragon in the Jungle: The Chinese Army in the Vietnam War. Xiaobing Li. Oxford University Press, Jan 30, 2020. (B) A History of the Modern Chinese Army. Xiaobing Li. The University Press of Kentucky, 2007

7/ Của Chuột và Người. John Steinbeck. Bản dịch của Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập. Nxb Văn, Sài Gòn,1967

8/ Khám Phá Việt Nam: Hầm bí mật dưới lòng đất của Lạng Sơn có nhiều ghi chú bằng cả chữ Hán   

9/ Great Writers of the West: Steinbeck and the Environment. The Bill Lane Center for the American West. Stanford University Wednesday, May 10, 2017 

17 BÌNH LUẬN

  1. Nhìn Lại Của cha và con Steinbeck giữa Chiến tranh Việt Nam

    John Ernst Steinbeck IV trở thành phản chiến. John Ernst Steinbeck IV, ông có thực sự là người theo Coconut Monk hay chỉ xu thời với những tuyên truyền thời cuộc.

    Chiến tranh chưa bao giờ là hợp lý. Nhưng mà John Ernst Steinbeck IV vẫn chưa nhìn rõ về VN War như người cha.

    John Ernst Steinbeck IV (JESIV) là người học trò của Coconut Monk (CM), cuộc sống của JESIV chứng minh điều này. CM phản chiến, ở đảo, xây dựng một cuộc sống thiên nhiên cho dân, chứa những người không muốn gia nhập chiến tranh và những lình đào ngũ. Chính phủ VNCH phản đối p6ng rồi tôn trọng ông với hòn đảo an lành.

    JESIV ngược lại sa vào nghiện ngập. CM khuyến khích người dân yêu hòa bình, khuyến khích người đời sống tôn trọng lễ nghĩa và yêu thương nhau, cư xử hòa mục với nhau.và sống bằng những trái dừa.

    Cũng may có tường trình về bộ phim Sad Song of Yellow Skin nên những hình ảnh của CM được ghi lại khá khách quan. Phim này làm 1070, chưa thấy có phụ đề Việt Ngữ. Sau 1975, những câu chuyện về ông có lẽ cần xét lại. Nhưng ai sẽ làm điều này?

    Ai điên? Một VN War điên cuồng hay một CM mất trí, đến nay vẫn còn được tranh cãi.

    Ai phản chiến, ai ủng hộ chiến tranh là những câu hỏi khó trả lời vì cần nhiều tra cứu cũng như về nội dung định nghĩa của thế nào là phản chiến hay thế nào là ủng hộ chiến tranh. Hai chính phủ Hồ Chí Minh cũng như Ngô Đình Diệm có pphải đã từng ráng thu xếp cho không có chiến tranh của 2 miền để người Mỹ không mang quân vào miền nam VNCH?

    Trích từ link ở bải về John Steinbeck and the Coconut Monk:
    “Who is shooting at us?” to which John turned his head and replied, “Don’t know. Could be them. Could be us.”

    Ai phản bội, ai anh hùng?

  2. Trích, “Gretchen Knief, trông coi thư viện Kern County, cô không sợ bị đuổi việc vẫn lên tiếng cảnh báo: “Nếu cuốn sách ấy bị cấm hôm nay, liệu sẽ có thêm cuốn sách nào bị cấm ngày mai?”

    Ngày nay Mỷ hay nói tới “cancel culture”, ví dụ cái vụ cấm sách Dr. Seuss, vì lý do racism, tôi thì chưa đọc, chĩ cho rằng sách không nên bị cấm vì nữ thần tự do và giá trị lịch sử. Như kịch Shakespeare luôn được phổ biến, mỗi năm thường được tổ chức ở Canada Parks.

    Racism luôn có trong lịch sử, có trong ca dao VN.

    Từ trước đến nay, mỗi khi nhắc đến câu chuyện công chúa Huyền Trân, nhiều người thường nhắc đến câu ca dao quen thuộc: từ nghiencuulichsu.com/2017/05

    Tiếc thay cây quế giữa rừng,
    Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo !

    Hoặc một câu khác có hình thức biến thể của câu trên:

    Tiếc thay cây quế Châu Thường,
    Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo!
    (Châu Thường ở Thanh Hóa là nơi có rất nhiều quế).

    Chúng ta có nên cấm ca dao VN vì racism?
    Do we want to cancel William Shakespeare or cancel history?
    Những sáng tạo văn chương cần được tìm hiểu và gìn giữ như thế nào?

    Have a great time to spend the day with positive thinking.

    Joshua Phillipp có cuộc phỏng vấn với những người làm phim. Hãy tìm coi, để cập nhật hóa và thêm ý tưởng về tự do diễn đạt.

    Cancel Culture’s Impact On Creativity—Interview With Clarence Felder and Chris Weatherhead
    Crossroads Joshua Philipp Mar 27, 2021
    Cancel culture is broadening its targets to include just recently the Disney films “Peter Pan” and “Dumbo,” cartoon characters like Speedy Gonzales, and children’s authors like Dr. Seuss. To learn more about cancel culture and its impacts on Hollywood and creativity, we interviewed filmmakers Clarence Felder and Chris Weatherhead.
    “Do your own research and I will read your book” (Clarence Felder)
    “Even “Romeo and Juliette” wasn’t a love story. It is a story about how conflicts between 2 groups
    can destroy love. And it is powerful…” (J. Phillip)

  3. Mai mốt , Bí Trọng qua Mỹ . Hổng lẽ ông Biden lại
    mời Trọng đi thăm cái bức tường đen ,tưởng niệm quân
    nhân Mỹ đã thiệt mạng trong chiến tranh ở VN .

    Bởi vậy cho nên Đảng ta phải gấp rút vận động ,hợp
    tác với kiều bào Mỹ gốc Vẹm ,xây một tượng đài
    liệt sĩ của quân đội nhân dân anh hùng đã hy sinh trong công
    cuộc chống Mỹ kíu nước . Để bác Lú tiện việc
    đến thăm viếng . Đặc biệt là tượng đài này chỉ toàn
    xương trâu và xương chó . Và để tạo thêm vẻ âm u
    trầm mặc ,sẽ lấy hình ảnh hai ống xương chó chéo
    nhau và đầu lâu trâu làm biểu tượng cho đài tưởng
    niệm .

    Công trình này sẽ sớm hoàn thành trước ngày
    bác Lú qua Mỹ ,được xây dựng bên cạnh bức tường
    đen của lính Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến VN .

    • Phen ni Biden mời bác Trọng qua Mẽo vào Whitehouse uồng riệu để bàn về thê’ sự chien lược đôi’ tác song phuong giửa 2 cụu thù Viet Mẽo, không biét đám NGỤY TAN DƯ 3/// có còn tí can đảm nào nửa không để diễu vỏ duong oai chào đón bác Trọng vói lá cờ 3/// nhU nhửng lần truóc khong biêt nửa.

      Kiểu ni làm bác Trọng mất vui khi ngồi uống riệu và họp báo vói Biden tai phỏng báo chí trong Whitehouse mà khong có đám NGỤY TAN DƯ sắp hàng đứng giang nắng và vầy vẩy cờ 3///.

      Chắc chắn là NGUY VAN PHÉT phải gọi điện tói PHAN KỲ NHÔNG ở Bolsa và VỦ HUYNH TRUONG ổ SAN JOSE về viẹc làm dàn chào bác TRỌNG sáp tói MẼO bàn chuyen thé giới vói Biden.

      Đúng ra thì củng chằng cấn hõi làm chi , nhưng mói đây ngày 6 tháng 1 vưa qua , một nhúm NGUY TAN DƯ vói cờ 3/// đằng đằng sát khí , đả chiếm đuoc CaPitol Hill làm thủ đô tỵ nạn của NGỤY TÀN DU tại MẺO rôi, nhưng vì BIDEN hải quá phải dích thần ra lạy lục NGỤY TAN DƯ xin lại Capitol HIll để cho quoc hoi lam viẹc.

      Từ ngày 6 tháng 1 đến nay khong tháy bát kỳ mot bóng dáng Ngụy TÀn Dư nào dám vác cái cờ đó đi nghenh ngang giủa phố phuòng như truoc đây. Hay là Ngụy đổi cờ rồi chăng? Hay là vì quá……….hãi khi tháy FBI MẼO bắt bớ máy chục nguòi cho nên NGỤY TAN DƯ tịt ngòi luon rôi chăng.

      Túm lại phen ni bac Trọng nhà em đi thăm Mẽo xem ra khong máy vui vè vỉ thiếu vắng cờ 3/// đứng làm dàn chào. Thiệt quả là thú vị khi ngôi uong riệu voi BIDEN vừa nhìn xem đám NGỤY TAN DƯ phá gia chi tử đứng giang nắng , sáp hàng vày vẩy chào đón bac TRONG băng cờ 3///. Thôi thì lần này khong nhìn đuoc cờ 3/// thi lần khac vạy. Hay là sè mai mải khong còn nhìn tháy cờ 3/// nửa vì nó đả thành bieu tuọng của KHỦNG BÔ’ ngày 6 tháng 11 naM 2021 và tuyet đối bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Nếu thế thì Ngụy Tàn Dư 3/// lại tiep tục đi GIẬT SẬP luon nuoc MẼO vì đả dám liệt cờ 3/// vào biẻu tượng của KHUNG BỐ.

  4. Xin cảm ơn ĐCV và t/g Ngô Thế Vinh, đã giới thiệu Steinbeck.

    Tôi có nghe tên Steinbeck nhưng chưa đọc sách của ông. Đọc bài viết trên, rất cảm động với trận chiến VN luôn gây tranh cãi, kéo dài từ thế hệ này qua thế hệ khác.

    Lâu lấm rồi tôi tình cờ có coi phim Sad Song of Yellow Skin từ internet. Nhờ đọc bài trên nên tim lại coi, vì phim này có John Steinbeck IV, vẫn thấy rất muốn khóc như lần đầu.

    Tôi cũng coi các link bài viết trên đưa ra.

    Sad Song of Yellow Skin bộ phim bắt đầu với: “The war … will not .. end … until Saigon is badly hurt. A Vietnamese told me this on my first day there.”

    Steinbeck’s observations about the inhabitants of the Island of Peace seem cautious, as if he wants us to know he is not intimate with them and is thus largely speculating. Rubbo says that Steinbeck “calls himself a friend, not a follower, of the monk. He … says it’s the only place he can find truly happy Vietnamese.”

    Tôi tìm ra cái documentary viết rất hay về phim này.
    2017-02 The Documentary Art of Filmmaker Michael , Jones, D.B. University of Calgary Press

    Phim nói vệ 3 bạn trẻ sinh hoạt ở VN.

    Dick Hughes coi trẻ mồ côi hè phố. Dick vẫn tiếp tục tục giữ lý tưởng coi trẻ mồ côi VN sau cuộc chiến.

    Người thứ hai , Steve Erhart , đi tìm hiểu về dân chúng chung quanh cũng như đám dân sống chật chội ở một khu nghĩa địa. Sau chiến tranh ít khi về Mỹ và chết ở Ấn Độ năm 35 tuổi.

    John Steinback IV thường ở đảo của ông đạo dừa ở VN mà về Mỹ lại nghiện ngập.

    Có phải tại chiến tranh VN gây ra hay không? Tôi nghĩ rằng, không phải đâu, mà chỉ do sự tự do lựa chọn của con người. Họ tất cả đã từng có một thời đi tìm lý tưởng.

    Xin phép được trích một ít đoạn.

    “The journalists— Dick Hughes, who ran a home for orphaned street kids; Steve Erhart, who was researching articles about a community living in closely packed hovels in a disused cemetery; and John Steinbeck IV, who was fascinated by a Buddhist colony on an “Island of Peace” in the Mekong River—had been living among the Vietnamese and working to ameliorate the effects of the war. Rubbo was attracted by their initiative and the casual courage it took for the three Americans, unanimously against the war, to place themselves in a doubly dangerous situation. Rubbo wanted to build his film around these three young men, but because they were not Canadians, the film would lack Canadian content. He wired Tom Daly. Perhaps taking into consideration that the crew was already in Saigon, and valuing Rubbo’s enthusiasm, Daly gave Rubbo’s new proposal his blessing. Rubbo filmed for three weeks.A limited budget for location filming was one of the few disadvan-tages of making documentaries at the Film Board, even in its ”

    “From John Balaban’s gripping memoir, Remembering Heaven’s Face, about his own time in Saigon doing humanitarian work, we learn that Steve Erhart, a friend of Balaban’s, became involved in Saigon’s drug culture, never returned permanently to the United States, and died in India at age thirty-five.1 Steinbeck spent considerable time on the Island of Peace, but back home he suffered from drug and alcohol addiction, dying at age forty-five.2 Only Dick Hughes emerged with his idealism and sense of purpose intact. He continued his work with Vietnamese orphans after the surrender, establishing several additional homes for boys. Later, while pursuing an acting career in the United States, he remained involved in helping Vietnamese war ”

    Tôi sẽ phải đọc Steinbeck khi có thêm thời gian.

    Steinbeck, “Mọi cuộc chiến tranh đều vô vọng nhưng là cần thiết, và cuộc chiến tranh này cũng là cần thiết.”

    Trận chiến VN có cần thiết hay không, và cho quyền lực nào?

  5. Thì ra bây giờ tụi Tầu mới khui ra là có lính Tàu qua Việt Nam
    để “chống Mỹ ,kíu nước … Tầu” .
    Vẹm nhà ta thì cứ chối bai bải mấy chục năm .
    Miệng thì chối ,nhưng lại xây cái nghĩa trang “hoành tráng”
    cho Chệt , gần biên giới phía bắc . Nghe đâu là “bộ đội anh
    hùng ” của ta bị cấm héo lánh tới đó .

    Những thằng Tầu xâm lược ,thì được trọng vọng như ông
    nội chúng nó .
    Còn mấy anh hùng hy sinh đánh Mỹ nguỵ ,thì được “xương
    chó,xương trâu ghi công”

    He he … Làm thân nô lệ ,khổ thế đấy . Thờ mẫu quốc Tàu,
    đánh cho Mỹ cút ,nguỵ nhào , rước mẫu quốc Chệt về thờ .

    Nghiêm, chào !
    “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước .
    Ôi ! Xương trâu ghi công … máu me ..

    • 300 ngàn quân Trung cộng đóng tại Bắc Việt từ sau 1960 khi mà NVA dồn sức để quyết tâm thanh toán miền nam. Ngoài ra còn có phe XHCN gồm Bắc Hàn, Ba lan, Đông Đức, Nga Sô, Cu Ba…Từ từ mới lòi ra hết nhờ báo chí truyền thông. Chẳng hạn khoảng gần 10 năm trước khi Bắc Hàn sang VN để tưởng niệm 21 phi công Bắc Hàn đã quyết tử cho tổ quốc…VN quyết sinh vì bị phi công Mỹ bắn thì mới biết quân đội nhân dân xài con lai nhiều quá.

      • Thông tin thì phải manipulate theo chiều hướng của đảng ta anh hùng, ngụy quân hèn nhát chứ không phải là “địch chết ba, còn ta thì chết…ráo!”. Nó hổng có phục vụ cho lợi ích của cách mạng.

  6. 300,000linh Tàu là do VC sau chiến tranh chứng minh. 300,000 ở biên giói Việt Trung . Nếu Mỹ quây lại chiến trường miền Nam như ở Triều Tiên thì TC sẻ nhảy vào chiếm Bắc kỳ dươi danh nghỉa gìn giử an ninh cho VC sợ VNCH+Mỹ đổ bộ lên Bắc Kỳ. Pháp cử Đai tường qua thăm tình hình VN ,muốn thế chân Mỹ ,nhưng rồi không làm gì . Còn TC bắn tiếng vói DVM nếu Y/c TC sẻ giup miền Nam,nhưng DVM không chấp nhận.
    300 ngàn quân Tau y đinh là nếu VC thua như Tết MT ,họ sẻ tràn vào Bắc Việt…VC thắng .Mý rút lui thật sự .TC lại đem quân chiếm Hoàng Sa của VNCH .VNCH dối mặt vói CS trong thế thua ,nay thêm vụ Hoàng Sa ,tàu hãi quân VNCH cùng chẳng làm gì được .Mỹ gần đó được VN kêu cứu ,nhưng làm NGƠ.
    VC chiem miền Nam .băt quân nhân công chức VNCH đi tù ,gọi là trại lao cải (hard labor Camps) . Trong một buổi học tập ,một Đ/U ngụy hỏi “dao TC chiếm HS ,Hà nội không phản ứng gì?’.Mây ngày sau được trả lời :”TQ giúp ta lấy Hoàng Sa.Khi ta ổn định xong ,TQ sẻ trả lại cho ta” .Nó không những không trả mà còn ý chiếm VN ,nếu Ngụy nhận lơi TC vào giúp dánh VC. Nó sẻ đưa 300 ngàn quân vào chiếm Hà Nội ,và giúp trên danh nghỉa đánh VC ở miền Nam : TC chiếm luôn miền Nam <Và hoàn thành việc xâm lăng VN.
    VC đối phó vói TC và bị thua xiểng niểng , TC Chiếm đất ,thác Bãn gióc ,ải Nam quan vào sâu 200km về phía VN…VC cho khai thác Boxit Tây Nguyên . và dân mất biển đảo và tới nay mất các vị trí quan trọng . Bản đồ hành quân cung do Tàu IN ra ,các địa ciểm chiến lược của VC năm trog tay TC. VC ca là chiến thắng giặc Tàu.Tàu thì răn đe "sẻ cho VN bài học thứ 2 " .Và bây giời hay vì tham nhũng hối mại quyền thế ,thù nhan dân miền Nam ,coi như dân bị tri ,BV đổ người vào Nam chiếm hết tất cả và tuyên bố "chỉ có người miền Bắc là có lý luận …" Cù Vũ qua Mỹ vì 2 bao cao su (có thật) nhưng nói rằng Cù Vủ đấu tranh cho VN dân chủ là nói láo. Nhân thân của hăn và sự quan hệ giữa cha hăn ,cù huy cân ,hồ bắc cụ và võ nguyên giáp đâu ai lạ gì …Cho nên nói vói tên DLV/LLBB ,hay sùng bái một ách cuồng loạn Trump đem nhưng bài báo của VC lên đây và đẻ tỏ ra ta đọc báo Mỹ thì thật hét nói nổi …Vậy ma cũng gọi "nguồn " trung thực (các tờ báo này đều có dịch ra tiếng Anh như VNet,trithuwc VN ,3 cây trúc ,SOHA )
    Và mà ai nói cuồng Trump thì "em chả ,em chả…",chối bai bải như CV chối 2 bao cao su!
    Chống Cộng mà úy phuc một người không còn là TT(chỉ còn cái mồm ).
    Chống VC mà chưởi Mỹ TT đương nhiệm không khác gì cs ( phần lớn lại không phải ở Mỹ hay công dân Mỹ)…Vậy có khác gì chúng ?..
    (CHP Mỹ hiên nay tuyên bố sẻ dạy tiếng Mỹ cho sq VC .Đ/S Mỹ cung thay đổi ,giám sat kỷ hơn và có thể áp đặt thuế cao nếu có bằng chứng là sản phẩm xuật khẩu VN là của Trung Cộng -VC chối,nhưng Mỹ điều tra…)

    • Đâu có đọc báo cuồng TRUMP , Phét đọc báo MẼO, Newyork times. Thí dụ như bài báo duoi đay em đoc tù newyork times nè. Báo MẺO nó nói NGỤY SAI GON quăng súng chạy chứ đâu có hết đạn bao giò

      nytimes.com/1975/03/29/archives/arms-left-by-us-loss-by-saigon-force-called-catastrophic-1billion.html

      Phét mòi các bác NGụY TÀN DU vào kiểm chứng xem báo VC hay báo MẺO. Newyorktimes theo em biet là tờ báo khá uy tín mà lị.

      ARMS LEFT BY U.S

      SAIGON, South Vietnam, March 28—The South Vietnamese have lost more than $1‐billion in American military weapons and other equipment over the last two weeks, according to qualified Vietnamese sources.

      The abandonment of hundreds of artillery pieces, trucks, planes, mortars, tanks, armored personnel carriers, rifles and ammunition—coupled with the rapid retreat of army units—is viewed by Vietnamese and Western sources as a stunning and, quite possibly irreversible military and psychological blow for South Vietnam.

      A senior Western official, who has spent more than a decade in South Vietnam, said today: “These losses are very, very, very considerable. It’s a catastrophic loss.”

      Đó là chuyện NGỤY VÙNG II quăng súng phoc chạy mà bay giò qua MẼO noi phét là “TỤI TAU THUA VC LA VI TỤI TAU HẾT ĐẠN”.

      Bay giò sang chuyện TÀU vào giúp VC.

      Lại củng là Newyork Times

      f the Chinese were on one‐year rotation duty in Vietnam, 40,000 or 50,000 presumably would have been there at any given time. At the height of the war, there were about a half‐million American servicemen in the Indochina theater.

      Yang Gongsu, deputy head of the Chinese delegation, said at a news conference after the talks that China had sup Vietnam more than 300,000 army personnel to Vietnam from 1964 to 1971. They worked as antiaircraft artillerymen, road builders, railway workers and logistics teams to keep supply lines open, he said.

      More than 1,000 Chinese soldiers were killed and several thousand were wounded, Mr. Yang said. Re said that the Chinese did not enter South Vietnam, indicating that the casualties were the result of American air raids on the North.

      Củng là nhò giup đỏ tù ben ngoài nhưng khác vói Ngụy SAI GÒN, Viet Cong khong phó cả linh hồn và xác cho TÀU mà VC tụ hoach đinh chién luoc, chien thuật, đánh ỏ đâu và đánh như thé nào. Đieu quan trong hon nưa là phía nào néu để cho nuoc ngoài cầm súng trưc tíép giao tranh là phía đó mất hết chính nghĩa. NGUY SAI GON là mot điển hình.

      Trong khi Ngụy thì giáo phó tat cả cho MẺO quyet định tù chién luoc, chien thuat. Hảy nghe Tong Tham Muu trưởng đại tuóng NGỤY CAO VAN VIÊN nói và đuọc Rand.org tuòng thuật.

      We Vietnamese have no military doctrine because the command of all operations in Vietnam is in the hands, is the responsibility, of the American side. We follow the U.S. military doctrine. We cannot have a Vietnamese military doctrine. We can get it only on the day when we will be in charge, when we will be responsible for the operations in South Vietnam.” That is all. ”

      See, môt TONG THAM MUU còn thú nhận là chúng ta khong có bát kỳ mot học thuyét quân sụ nào hêt bỏi vì tất cả mệnh lệnh đều đến từ phía MẼO. Ngụy SAIGON chỉ tuan theo học thuyet quan sụ của MẼO mà thôi. Chúng ta chỉ có thể biét nó như thế nào chỉ vào ngày mà NGUY SAI GON chịu trách nhiệm cho viẹc hành quân. Chỉ thé thôi

      Tháy chưa , VIET CONG khong ngu nhu NGỤY SAI GON mà dùng quan đội nuoc ngoài trưc tiép tham chiến vì sẻ mất chính nghỉa. NGUY SAI GON chop bu ngu si khong hiểu đuọc đieu này cho nên bị cả thé giói lên án là CON RỐI của MẼO và cuoi cùng thì là thé nào thì Phét khong cần phai nhac lại làm chi cho cac bác NGỤY tức hộc máu mủi mà chết.

  7. Linh TÀu tham chiến đánh MỶ NGỤY tại mien NAM voi’con số lên tói theo như Ngụy Tàn Dư reu rao là hơn 300 ngàn. 300,00 quan tham chién tại mien Nam suót 10 năm mà NGỤY và MẼO khong giét hay bắt sông’ đuọc ten lính TÀU nào sao vậy chời. Neu’ thì thì NGỤY quá dzom? phải hong nào.

    VC dép rau nón cói còn tóm đuoc MẼO và NGỤY cơ mà. So ra VC winh’ quá giỏi hon NGỤY nhieu lần.
    Đánh đấm vậy thua là phải rồi .

    • @Ngu Vẫn Phét
      Mày BÚ CỜ…..ẶC hoài nên ngu hơn chó. Mịa, lính Tâu, Nga là lính….ông Nội của Boác và đảng CSVN, cho nên tụi nó chiến đấu ở…phía sau, không thể chết được. Còn lính Việt Cộng là lính tay sai cho nên chết bao nhiêu cũng được. Không nhớ lời Boác Hù tuyên bố sao??? Đánh Mỹ cho tới người VN cuối cùng, chớ Boác đâu có bảo chúng mày đánh cho tới người Tàu, Nga, cuối cùng đâu. Đúng là Ngu hơn chó.

      • Nè tuỏng đâu tên Ngụy này thong minh hơn những tên Ngụy khác té ra củng the same shit on a different dumb. Nguy SAI GON ruóc MẼO vào và giao cho nó quyét định phác thảo ra chien luoc, chiến thuật và từ đó NGỤY SAI GÒN trõ thành tà lọt, Mẻo nố sai đâu là đánh đó trong khi nó là thăng MẼO từ bên TÂY BÁN CÂU làm sao biet mẹ gì Viet Cộng mà để nó điêu khiễn. Cuối cùng thì cã thế giói đèu biét, NGỤY SAI GÒN thành con rôi’ và chết.

        Hảy nghe CAO VAN VIÊN , đại tuóng tóng tham muu của NGỤY QUAN SAI GON và Trung tuóng TRAN VAN ĐÔN trả lòi phõng vấn vói Rand.Org.

        Tran Van Đôn answered Rand officer : General Vien, the chairman of the JGS, talked to me once in the beginning of 1969 when I was Chairman of the Defense Committee of the Senate and I led a delegation of Senators and members of the House to the General Staff headquarters, to Cao Van Vien’s office. Our question was, can you tell us (we are now members of the House and Senate in a very close meeting) your military doctrine because we need to know. We are making war, but on the basis of what doctrine?” That question was very good. It was very sensible. It was not my question, it was the question of the other members. We agreed on that question. Do you know what the answer was from Cao Van Vien? He said, We Vietnamese have no military doctrine because the command of all operations in Vietnam is in the hands, is the responsibility, of the American side. We follow the U.S. military doctrine. We cannot have a Vietnamese military doctrine. We can get it only on the day when we will be in charge, when we will be responsible for the operations in South Vietnam.” That is all.

        See, môt TONG THAM MUU còn thú nhận là chúng ta khong có bát kỳ mot học thuyét quân sụ nào hêt bỏi vì tất cả mệnh lệnh đều đến từ phía MẼO. Ngụy SAIGON chỉ tuan theo học thuyet quan sụ của MẼO mà thôi. Chúng ta chỉ có thể biét nó như thế nào chỉ vào ngày mà NGUY SAI GON chịu trách nhiệm cho viẹc hành quân. Chỉ thé thôi

        Rỏ ràng là Ngụy SAI GON từ mot nuoc chủ nhà trỏ thành tên lính đánh thue cho MẺO sai đau dánh đó.

        Trong khi đó Viet Công nhân sư giup đỏ tứ NGA, TÀU nhưng tat cả chiến thuat, chién luoc, quyet định đánh ỏ đau, đánh ra sao đều chi có Viet Cong biét voi nhau.

        Hảy xem lại báo NÊWYORK TÍMES viét về chuyẹn này :

        the Chinese were on one‐year rotation duty in Vietnam, 40,000 or 50,000 presumably would have been there at any given time. At the height of the war, there were about a half‐million American servicemen in the Indochina theater. They worked as antiaircraft artillerymen, road builders, railway workers and logistics teams to keep supply lines open .

        More than 1,000 Chinese soldiers were killed and several thousand were wounded, Mr. Yang said. Re said that the Chinese did not enter South Vietnam, indicating that the casualties were the result of American air raids on the North.

        nytimes.com/1979/07/31/archives/peking-says-it-sent-300000-men-to-aid-hanoi-in-war-with-us-road.html

        tháy chưa , VIET CONG khong ngu nhu NGỤY SAI GON mà dùng quan đội nuoc ngoài trưc tiép tham chiến vì sẻ mất chính nghỉa. NGUY SAI GON chop bu ngu si khong hiểu đuọc đieu này cho nên bị cả thé giói lên án là CON RỐI của MẼO.

        Hy vong anh giai thich như thé, Ngụy sè sáng óc ra mot tí nha.

  8. After 1975, American recognizes how criminal they become when indirectly helping the communist run over Republic of Vietnam ( VNCH ). Media is quietly! Anti war Protester is silence but Anerican conscience is like pacific storm, destroying insides their mind

    This morning, President Biden visit the Vietnam war memorial wall, official accept a period of denial of guilt, open a door the prospect of Yellow flag will once again, flying high in Vietnam sky for the final victory of Vietnamese over communist

    Thanks again

    • From Yahoo News: “According to the Department of Veterans Affairs, National Vietnam War Veterans Day recognizes the disestablishment of the U.S. Military Assistance Command in Vietnam on March 29, 1973.”

      ….and it has NOTHING to do with “official accept a period of denial of guilt, open a door the prospect of Yellow flag will once again, flying high in Vietnam sky for the final victory of Vietnamese over communist.” Please stop B.S. and don’t forget it was Biden who opposed the Vietnamese refugees settlement in California.

      • Time has changed and time will tell. Biden now is not the same Biden before. That s politic!

        By saying that- history will still condemn Biden for supporting US government abandoning Vietnam Republic and pushing millions of refugees out of hope.

        We need support from every US president as much as we could including from both parties for our cause of fighting against the communist and reestablish Republic of Vietnam( VNCH)

  9. Thank you. It is alway a part of our humanity continue fighting against the communist to re-establish Republic of Vietnam ( VNCH)

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Tên