46 năm và niềm tin cứu độ mới cho Việt Nam 

13

Cách đây 46 năm, ngày 12/12 tuần nầy, Quân đội Nhân Dân (QĐND) miền Bắc, dưới sự chỉ huy của tướng Hoàng Cầm, mở màn trận đánh tỉnh lỵ Phước Long, chỉ cách Sài Gòn khoảng 120 cây số phía Tây Bắc. Tướng miền Nam là Dư Quốc Đống chỉ huy quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chống trả trong một hoàn cảnh rất khó khăn. Hơn ba tuần sau, ngày 6 tháng 1, 1975, Phước Long thất thủ.

Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) muốn đánh thử trận nầy để xem phản ứng của Hoa Kỳ như thế nào. Như ai cũng biết, Mỹ hoàn toàn không can thiệp, không có một động thái chính trị hay ngoại giao nào đáng kể nhằm khuyến cáo miền Bắc cho sự vi phạm Hiệp định Paris khi chưa ráo mực chữ ký. Vài tuần sau, QĐND phát động tổng tấn công từ Quảng Trị đến đồng bằng Cửu Long. Chỉ trong vòng ba tháng sau, ngày 30 tháng 4, miền Nam đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh chấm dứt. Đất nước thống nhất.

Định mệnh Lịch sử

Trận Phước Long nầy, cũng như nhiều trận khác trong cuộc chiến Quốc Cộng vừa qua, cùng chia sẻ một mẫu số chung về bản sắc và tính chất nhân văn của hai miền Nam Bắc, giữa Quân đội VNCH và QĐND. Mặc dầu hai phía trong chiến tranh đều là quân nhân người Việt Nam, nhưng bản sắc của người lính QĐND được trang bị nhiều ưu thế, từ vũ khí, chiến thuật, lãnh đạo, chính trị và thời thế. Số phận VNCH đã được an bài – không phải như là một mục tiêu chính sách – mà là một định mệnh lịch sử.

Bỏ qua những yếu tố chính trị, lãnh đạo, hay quân sự, phía miền Bắc có cả một chiều dài lịch sử sau lưng họ.  Đó là ý chí độc lập, thống nhất đất nước. Miền Bắc phải hoàn tất thiết yếu tính cho một bản sắc sử mệnh mà thời đại đã giao cho họ.

Còn phía miền Nam thì bị lịch sử bỏ rơi. Nó tiếp nối một gia sản chính trị và tâm lý từ vai trò lệ thuộc vào ngoại bang. Họ thụ động chiến đấu – mà không hề mang một ý chí hay ý thức về sứ mệnh chiến tranh cho mình. Người dân miền Nam, và cả quân đội VNCH, đã giao hoán lòng yêu nước cho đối phương và vì thế đánh mất luôn hồn ái quốc. Chiến tranh đối với họ chỉ là một chuyện cực chẳng đã, một phản ứng tự vệ cho qua chuyện.  Và chính vì điểm hời hợt và thụ động đó, miền Nam đã vô tình mang một bản sắc chính nghĩa vượt làn ranh Quốc Cộng.

Trái với miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN vốn tập trung hoàn toàn năng lực quốc gia cho mục tiêu chiến tranh, VNCH, trái lại, từ chính quyền cho đến quần chúng, là hiện thân của một ý chí tự do và nhân bản trên cơ sở cá nhân. Dù trong thời chiến, nhưng văn chương, âm nhạc, thi ca của miền Nam vẫn chỉ nói về tình yêu, về con người và số phận – chứ gần như không hề đề cập đến mối hiểm nguy mà họ đang phải đối đầu. Dù bộ máy tâm lý chiến VNCH có cố gắng nhắc nhở về hiểm họa độc tài cộng sản, dân miền Nam vẫn không thèm nghe – vì họ coi chuyện đó là một thể loại tuyên truyền hạ đẳng. Dân miền Nam, qua tâm chất ôn hòa và thông thoáng, biểu lộ tinh thần tự do qua tâm lý chán ngấy và nghi ngờ chiến tranh. Và đó là điểm yếu sinh tử cho họ khi phải đối đầu với một đối phương như là Đảng CSVN. Trong khi dân miền Nam chỉ có mục tiêu là hòa bình, thì miền Bắc là chiến thắng.

Văn hóa Nam Bắc: Tâm hồn Hy Lạp đối với khí chất Do Thái

Hiệp định Geneve 1954, chia cắt Việt Nam thành hai phía Nam Bắc rõ rệt trên bình diện chính trị. Nhưng chính trị ở đây là sự thể hiện và kết thành từ một định mệnh văn hóa. Nó phát xuất từ tâm chất và bản sắc tâm lý của dân hai miền, vốn rất khác biệt nhau.

Chiến tranh Quốc Cộng, bỏ đi yếu tố ngoại bang, là một biểu lộ cho một mâu thuẫn văn hóa và con người Nam Bắc – mà sử mệnh Việt Nam phải đến lúc cần phải được tiêu hóa và hóa giải. Trận Phước Long cuối năm 1974 và bốn tháng binh lửa sau đó chỉ là một hồi kịch cuối vốn đã được viết sẵn từ trong bản sắc xung đột văn hóa Bắc Nam. Như là một tuồng cải lương đầy bi tráng, nó đã đến hồi kết thúc, xả hơi, mà ngay cả phe thua trận cũng đã phải thở phào nhẹ nhõm.

Ta có thể suy rộng ra rằng, trên sân khấu chiến tranh Bắc Nam thưở đó, phe miền Nam mang bản sắc tâm hồn văn minh Hy Lạp cổ đại, vốn mang ý thức thẩm mỹ, hài hòa, trật tự, và họ chỉ biết sống với hiện tại kéo dài gần như vô tận.  Tức là, chiến tranh đối với họ không cho một mục đích nào cả. Họ chiến đấu để duy trì đời sống yên lành và yên ổn – và mong ước cao nhất vẫn chỉ là chấm dứt chiến tranh. Dân miền Nam hoàn toàn không mang ý chí lịch sử – vì sử hồn của dân tộc đã bị miền Bắc chiếm hữu. Trong khi miền Bắc mang linh hồn tập thể, thì miền Nam chỉ có tâm hồn cá nhân.

Dân Nam bộ muốn vĩnh cửu hóa hiện tại – như một bác xích lô sau khi kiếm được cuốc xe, mua xị đế, đến gốc cây lề đường, uống say, ngủ một giấc an lành, không sợ trộm cắp, không màng chi ngày mai. Họ chỉ muốn biến cái hiện tại thuần thưởng ngoạn đơn giản thành ra một vòng tròn vĩnh cửu bất tận cho đời sống tự nhiên, vô tư của mình. Có nghĩa rằng, họ không mang ý chí hay suy nghĩ về tương lai – dù họ đang bước dần đến một tương lai bại trận rất gần.

Trong khi đó, người Cộng sản miền Bắc là hiện thân của một bản sắc từ văn minh Do Thái-Thiên Chúa giáo  – Judeo-Christian – khi họ đặt cứu cánh chiến tranh thành chân lý. Chiến thắng là chủ đích lịch sử.  Miền Bắc thấy ở cuối đường binh biến là một khả thể và cơ hội cứu rỗi khi đất nước thống nhất, khi tổ quốc sạch bóng quân thù xâm lược, và nhân dân sẽ sống ấm no hạnh phúc trong một trật tự thiên đường mới trên trái đất lãnh đạo bởi đấng cứu thế Hồ Chí Minh và giáo hội Đảng CSVN. Có nghĩa rằng đối với người CSVN thì chủ nghĩa Mác-Lê là một thể loại cứu rỗi luận – eschatology – vốn điều hướng tâm ý nhân gian về một biến cố lịch sử mang tính chất đồng quy cho tất cả ước mơ và tác hành của nhân loại bằng một Phán xét cuối cùng.

Ý thức hệ Marxist, vốn là hành trang tinh thần cho Đảng CSVN trong chiến tranh, là một phiên bản đảo nghịch về biện chứng, nhưng vẫn giữ nguyên cứu cánh luận của truyền thống Do Thái —Thiên Chúa giáo, với tất cả tính cực đoan tuyệt đối luận trong đức tin tôn giáo. Khi con người mang đức tin giáo điều như thế, không có gì có thể cản trở họ. “Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu. Ta đẻ ra đời sao khỏi những cơn đau!” – như Chế Lan Viên đã viết.

Chuyển hóa suy thức Không gian lên với Thời gian

Trước chiến tranh, khi người miền Nam nhìn qua người khác nơi ngõ làng, họ chỉ thấy đó là những anh chị hàng xóm, thân cận với ta. “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” là thế. Họ chỉ suy nghĩ trên bình diện không gian. Trong khi đó, người Cộng sản miền Bắc thì khác. Họ muốn nâng cái nhìn không gian của dân Nam lên với phạm trù thời gian. Anh hàng xóm không còn là người bên cạnh nhà – mà nay hắn là vô sản, hay là địa chủ, hay là phản động. Tức là, người Cộng sản khái niệm hóa cái nhìn mang tâm chất nông dân lên tầm mức ý niệm theo thời gian. Vì thế, bản sắc sâu xa của cuộc chiến Nam Bắc vừa qua là cả một trường biện chứng đối nghịch và tiến hóa giữa hai phạm trù không gian và thời gian.

Miền Nam là không gian; miền Bắc là thời gian. Khi người CS miền Bắc tiên phong đi trước nhân dân miền Nam, nắm được ý chí lịch sử với một cơ đồ khái niệm mới qua nghi lễ rửa tội bằng nước thánh ý thức hệ, họ cương quyết phá vỡ lề lối suy nghĩ thuần không gian (bờ cõi, thân xác) của nhân dân. Vì thế, làn ranh chia cắt Bắc Nam phải được xóa bỏ. Theo đó, dự án lịch sử qua chân lý chiến thắng phải được hoàn tất nhằm thỏa mãn cơn khát khái niệm theo thời gian – một thế giới đại đồng, vô giai cấp, không khổ đau – của những cán bộ nay đã say men ý thức hệ.

Điều nghịch ngẫu cao độ ở đây là điều rằng, khi người Cộng sản tôn vinh tự hào chủ nghĩa Mác-Lê là “bách chiến, bách thắng” cùng lúc phủ nhận toàn triệt gia tài và giá trị Thiên Chúa giáo – và hãnh diện tự coi mình đã tiêu diệt hết thần linh – thì chính họ lại hăng say hiện thực hóa bản sắc cứu rỗi luận của đạo Chúa vốn nay đã không còn hiệu năng cho khối nhân loại trời Tây. Thành công và chiến thắng của miền Bắc vừa qua, từ góc độ siêu hình, là một chiến thắng tôn giáo tự bản chất. 

Một đức tin cứu rỗi mới

Bốn mươi sáu năm đi qua nhanh.  Hôm nay chúng ta cùng nhìn lại để thấy rằng, sau 1975, lịch sử Việt Nam hậu chiến đã theo thời gian biến hóa và hoán chuyển vai trò nhân văn Bắc Nam một cách ngoạn mục. Khi người Cộng sản miền Bắc chiến thắng vào tiếp quản miền Nam, kẻ mang niềm tin ý thức hệ và chân lý chiến tranh nay được trung hòa và khai mở bởi cái bản sắc vô chân lý, vô sử tính, không giáo điều của dân Nam.

Như một câu chuyện thời chiến kể rằng, có mấy anh bộ đội xung kích mang súng AK và B40, đầu đội nón cối, đi lạc vào một con hẻm ở một thành phố miền Nam, mấy bà Nam bộ biết họ lạc đường đành thương hại đứng ra chỉ đường cho họ để đến đánh căn cứ quân sự VNCH nơi mà chồng con, anh em của các bà đang đồn trú.  Cái hiện tại vô cầu, không cứu cánh của người miền Nam là lý do thất bại; nhưng cũng với cái tâm ý thuần vô tư đó, nay đã trở thành một thể loại nước thánh mới nay được rắc lên tâm hồn dân Bắc như một ý nguyện cứu rỗi lại cho những anh chị CS kiên cường và khắc nghiệt vốn đã chiến thắng miền Nam bằng đức tin cứu rỗi.

Một ngày nào đó sẽ có một chủ nhà, ví dụ, gốc Nghệ An, nhìn thấy một chàng ăn trộm trên mái nhà của anh đành lên tiếng nghiêm trang nhưng ôn hòa khuyên người lạ mặt kia hãy cẩn thận kẻo té bị thương và bắc thang cho người ấy leo xuống đất an toàn – sau khi đã gọi cho công an đến xử lý.  Đức tính nhân từ mang tính chất Nam bộ của vị chủ nhà sẽ cứu vớt kẻ trộm, biểu dương tinh thần ôn hòa và trọng pháp, với một nhân sinh quan đức độ ngay cả đối với kẻ đối nghịch nguy hiểm.  Đối với chủ nhà nầy, cứu rỗi nằm ngay trong hiện tại, nơi những tác hành bình thường mà khi hành động, ông đã không biểu lộ lòng hung dữ, thù hận, hay mong cầu điều gì cho chính mình.

Có lẽ rằng về lâu về dài, cái mẫu người và văn hóa miền Bắc sẽ là một phiên bản của tâm chất người Nam. Quốc gia đi về phía Nam, hướng ra Biển Đông, ra thế giới cần một niềm tin mới – một đức tin không tôn giáo, không ý thức hệ chính trị, một hoài vọng nhân bản về một khả năng cứu rỗi từ văn hóa cho dân tộc hai miền – khi mà tất cả những di sản đau thương của chiến tranh Bắc Nam vừa qua sẽ chỉ còn là một ký ức nhẹ nhàng đi vào quên lãng.

Nguyễn Hữu Liêm

 

13 BÌNH LUẬN

  1. Ngụy Sai Gon mà đánh vói đấm con khỉ khô gi trơi ơi. Tướng hèn thì lính phải nhát mà thôi. Thử đếm trong hơn 160 ông tướng của Ngụy Sai Gòn thi đuọc máy ong giỏi, khong biet có duọc vài ông khong nua? Đai da số tuóng NGụY lên tướng là nhờ đảo chánh, nhò phe phái, nhờ nịnh hót mà len tuóng chứ mà có kinh nghiệm trận mạc tí nào đâu mà đòi chiến thăng bộ đội cụ Hồ dép râu nón cối, dạn day kinh nghiẹm trận mạc.

    Điển hình như Nguyen Van Thiệu từ đại tá vọt bănng lên thiếu tuóng sau khi tham gia giét Diệm, Nhu chứ chién công gì mà len tuóng. Khong phai chi có mot minh Thiệu mà hàng tram tuóng NGỤY toàn là lên tuóng nhờ vào phe phái, chạy chọt, đảng phái cho nên thua CSVN là đieu tất yéu.

    Túm lại Ngụy SAI GON khong thẻ nào chien thắng đươc CSVN. Mỹ và Mien Nam toàn là winh’ voi CSVN chú Ngụy SAIGON chỉ làm………..tà lọt mà thôi. Mải tói khi Mỹ rút thì NGỤY SAIGON ngoi lên thử lủa vài trận thì tói ngày phóc chạy chứ đánh đâm’ cái gì. Trận Hạ Lào bị CSVN winh’ cho tan tác. Trận Quang Trị thì mất hêt nủa tỉnh, và trận cuoi cùng 1975 là trận PHOC CHẠY……………….

    Đó là ket quả của QUAN NHỤC VIET NAM CONG HÒA sau 21 nam làm lính đánh thuê. Tói khi Mỹ hết muón trả tiền thì đội quân đánh thuê củng tan hàng.

  2. Trích T/g Nguyễn Hữu Liêm :Như một câu chuyện thời chiến kể rằng, có mấy anh bộ đội xung kích mang súng AK và B40, đầu đội nón cối, đi lạc vào một con hẻm ở một thành phố miền Nam, mấy bà Nam bộ biết họ lạc đường đành thương hại đứng ra chỉ đường cho họ để đến đánh căn cứ quân sự VNCH nơi mà chồng con, anh em của các bà đang đồn trú. Ngưng trích.

    Đọc trích đoạn trên cho thấy Nguyễn Hữu Liêm bị bệnh tâm thần. Bởi không có người vợ lính VNCH nào dại dột đến độ chỉ đường cho bọn Vc mang súng AK và B40 đi đánh giết chồng con, anh em của họ.

    Đề nghị Nguyễn Hữu Liêm sớm gặp bác sĩ xin khám bệnh, chậm trễ có ngày T/g NH Liêm dám viết “bà nhà của NH Liêm chỉ đường cho đám sát nhân đến làm thịt Nguyễn Hữu Liêm”.

    Học nhiều, viết nhiều đâm ra tối tâm, thật tội!

  3. Tg viết như thế này mà cũng xưng mình là triết gia. Ở đời thằng nghèo đi cướp của thằng giàu thì phải hung hãn hơn. Đằng sau lại có thằng chệt nó chỉ đạo kiểu vô sản và bóp “billards de famille”, lao vào cướp là con đường sống duy nhất… Đây là nói sơ qua từ thực tế chứ không từ bàn giấy. Dường như tg quên béng mất vụ ly khai và phá làng phá xóm của nước Huế… bên cạnh nhà tg… Do Thái Do Thung nó ở tận đẩu tận đâu… Đúng là đồ vừa gàn vừa thiên kiến…

  4. Ó BIỂN ĐÃ BAY XA
    Trong chiến tranh Việt Nam, Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là hai binh chủng mà Việt Cộng cố tránh đối đầu càng nhiều càng tốt.
    Mỗi tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều mang một tên riêng, trong đó có Tiểu đoàn 2 Trâu Điên và Tiểu Đoàn 8 Ó Biển.

    Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 8 Ó Biển, một người con của Huế, đã từ trần ngày 1 tháng 12 vừa qua tại Houston, tiểu bang Texas, thọ 80 tuổi.

    HUẾ, TÔI VÀ MẬU THÂN
    Tác giả: Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

    …Ðược sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả kẻ thù để dựng lại ngọn cờ trên Kỳ Ðài tượng trưng cho Huế. Hai mươi năm sau, hồi tưởng lại, máu và xương kia đã theo dòng Hương Giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển bắt làm người biệt xứ!
    Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Ðô đó, cũng Kỳ Ðài đó, cho tôi được góp phần dựng lại ngọn cờ một lần nữa để đền đáp ơn sâu và nghĩa nặng, nơi tôi đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người.

    KHI TÔI CHẾT ĐỪNG ĐƯA TÔI RA BIỂN
    Tác giả: Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
    Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
    Ôi! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Ben Het, Dakto
    Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ
    Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.

    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu D
    Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
    Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.

    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
    Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
    Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.

    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
    Gói thân tôi ba sọc đỏ nền vàng
    Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.

  5. Triết lý của tên “về VN đi xe có còi hụ” đọc qua mới thấy nó sến và rẻ tiền như thế nào.

  6. Ngày nay những người cộng sản rõ đã thấy rằng miền Nam là một cái bánh mà họ quá đói nên tham ăn nhưng cố nuốt không trôi ( bởi bánh quá lớn — tạo cho họ nhiều vấn đề chưa từng có và không giải quyết được) mà nhả ra cũng được do mắc kẹt ở miệng nên cứ ặc ặc ực ực trong miệng họng trong khi trong đầu tinh thần hoảng loạn căng thẳng
    như muốn nổ tung do vừa sợ ( chết vì nghẹn họng khó thở)vừa chửi ,từ lịch sử phát triển dân tộc đầy biến động, thăng trầm cho đến Hồ,đã đẩy khiến họ thành như vậy, thành “giải phóng quân “!

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Tên