Hải quân và Không Quân VNCH những ngày cuối cùng

8
Phải công nhận rằng Hoa Kỳ đã có một kế hoạch phá sập VNCH rất tinh vi, tỉ mỹ và hoàn chỉnh, kể cả đêm 29 rạng ngày 30.4.1975.
Như chúng tôi đã trình bày, vào tháng 4 năm 1975, khi thấy tình hình Miền Nam Việt Nam đã đến giai đoạn không còn cứu vãn được, Mỹ đã sắp xếp cho miền Nam đầu hàng Bắc Việt để tránh sự đổ máu quá nhiều. Biết Tướng Dương Văn Minh có liên lạc với Việt Cộng, Đại Sứ Martin của Mỹ đã phối hợp với Đại Sứ Merillon của Pháp thuyết phục Tướng Thiệu và ông Trần văn Hương từ chức và lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm hàng tướng bằng cách tạo cho ông ta một ảo vọng rằng chỉ có ông mới có thể nói chuyện với “phía bên kia” để hình thành một “chính phủ liên hiệp Quốc – Cộng!”
SẮP XẾP CHO TAY CHÂN BỘ HẠ RA ĐI
Thủ Tướng Tướng Trần Thiện Khiêm, một nhân viên tình báo gộc của CIA, chắc chắn đã được báo tin tình hình đang đến giai đoạn cuối, nên ngày 4.4.1975 ông đã tìm cách “bán cái” chức Thủ Tướng cho ông Nguyễn Bá Cẩn, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, để chạy, bằng cách nói với ông Cẩn rằng chỉ có ông ta mới có thể kết hợp được các đảng phái và tôn giáo lại thành một lực lượng có thể đương đầu với Công quân nên ông muốn nhường chức Thủ Tướng lại cho ông ta. Ông Cẩn chỉ là một chuyên viên về hành chánh và một tay chân bộ hạ của Tướng Thiệu, không biết gì về tình hình, nên cắn câu!
Ngày 14.4.1975, Chính Phủ Nguyễn Bá Cẩn ra mắt do ông Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ Tướng, Trung Tướng Trần Văn Đôn làm Đệ Nhất Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng; Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo, Đệ Nhị Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Canh Nông và Kỹ Nghệ, và Kỹ Sư Dương Kích Dưỡng, đặc trách về Cứu Trợ và Định Cư, v.v.
Ngày 21.4.1975 Tổng Thống Thiệu bị cưởng ép phải từ chức và nhường chức Tổng Thống lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Mất nơi nương tựa, ngày 23.4.1975, ông Nguyễn Bá Cẩn nộp đơn xin Tổng Thống Hương cho ông từ chức Thủ Tướng.
Tối 25.4.1975 CIA đã đẩy hai tay chân bộ hạ gộc của họ là Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Trần Thiện Khiêm lên chiếc C-118 của Không Quân Hoa Kỳ bay đi Đài Loan. Sau đó, theo lời yêu cầu của ông Nguyễn Bá Cẩn, tối 28.4.1975 người Mỹ cũng đã đẩy ông lên một chiếc C.130 đang nổ máy với nhiều người khác đã ngồi chờ sẵn, đưa ông đi Honolulu. Những chính khách hay tướng lãnh không phải là tay chân bộ hạ hay tay sai, đều bị Mỹ bỏ lại đàng sau, sống chết mặc bây.
ĐEM KHÔNG QUÂN VÀ HẢI QUÂN RA KHỎI VN

Ngày 26.4.1975, khi thấy tình hình đã đi vào giai đoạn cuối, Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự Mỹ (Defense Attaché Office – DAO) do Tướng Homer D. Smith điều khiển, đã bí mật khuyến cáo Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, ra lệnh cho Không Quân và Hải Quân chuẩn bị rời khỏi Việt Nam để các phi cơ và chiến hạm khỏi rơi và tay địch. Lúc đó, VNCH có lực lượng không quân và hải quân lớn nhất vùng Đông Nam Á.
1.- Di tản Không Quân
 Tối 28.4.1975, Chuẩn Tướng Huỳnh Bà Tính, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 3 Không Quân đóng tại Biên Hoà, trình Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh Bộ Tư Lệnh Không Quân, về việc đột nhiên một số phi cơ ở phi trường Biên Hòa đã phát nổ. Tướng Minh cho biết lệnh phá hủy phi cơ không phải từ ông mà do lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc đó, Cộng quân bắt đầu pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhứt. Tướng Minh ra lệnh dời Sư Đoàn 5 Không Quân ở Tân Sơn Nhứt và Sư Đoàn 3 Không Quân ở Biên Hòa xuống căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc, ở Cần Thơ. Khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, các phi công có thể lái máy bay bay qua căn cứ Utapao của Không Quân Hoa Kỳ ở Thái Lan. Cơ quan DAO đã cho các phi cơ Mỹ ở Hạm Đội 7 vào phụ giúp phá hủy các phi cơ còn lại, bom đạn và các giàn radar ở phi trường Biên Hoà.
2.- Di tản Hải Quân
Với Hải Quân, vì lực lượng này rất cộng kềng, nên việc di tản sẽ gặp khó khăn và có thể gây hổn loạn nếu không được tổ chức chu đáo. Cơ quan DAO đã cho cựu Thiếu Tá Richard Armitage, tùy viên viên quân sự Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, đến phối hợp với Đề Đốc Chung Tấn Cang (Trung Tướng), Tư Lệnh Hải Quân, lo tổ chức, đôn đốc và theo dõi việc di tản an toàn lực lượng Hải Quân ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, mục tiêu của cuộc di tản được thông báo cho các cấp là đi xuống miền Tây hay ra Phú Quốc. Đề Đốc Chung Tấn Cang mới được Tổng Thống Thiệu cử làm Tư Lệnh Hải Quân vào ngày 24.3.1975 thay thế Đề Đốc Lâm Nguôn Tánh (Thiếu Tướng).
Tướng Homer D. Smith, trương cơ quan DAO,
người điêu khiển cuộc di tản cuối cùng của VNCH.
Chiều 26.4.1975, Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội, mặc dầu chưa có lệnh, đã vội báo tin này cho các hạm trưởng biết. Ông nói phải “chuẩn bị tinh thần vì có thể di chuyển về Phú Quốc.” Ngày 28.4.1975 ông đã bị mất chức.
Vào sáng sớm ngày 29.4.1975, một cuộc họp mật của tham mưu cao cấp đã được tổ chức tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Đề Đốc Cang cho biết rằng nếu không có một phản lệnh nào khác, toàn bộ Hạm Đội sẽ rời Bộ Tư Lệnh ở Sài Gòn vào lúc 0 giờ tối 29 rạng 30.4.1975. Các hạm trưởng chuẩn bị thi hành. Tuy nhiên, cũng có chiến hạm đã lên đường trước giờ ấn định.
Đề Đốc Cang đã liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu và Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Cổ Tấn Tinh Châu, chỉ huy trưởng Đặc Khu Rừng Sát và Thủy Trình sông Lòng Tảo – Vàm Cỏ, yêu cầu giữ an ninh cho đoàn chiến hạm có thể di chuyển an toàn trên sông Sài Gòn trong vòng vài giờ để ra khơi. Các chiến đấu cơ của Hoa Kỳ cũng được phái đến để bảo vệ cho cuộc di tản này.
Trưa ngày 29.4.1975, Đề Đốc Chung Tấn Cang vào Dinh Hoa Lan gặp Tướng Minh để thăm dò. Ông cho Tướng Minh biết tình hình và hỏi Tướng Minh có định ra đi không. Tướng Minh cho con gái là Dương Mai, con rễ là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài và hai cháu ngoại đi theo Đề Đốc Cang, còn ông và bà Minh ở lại.
Lúc 5 giờ chiều 29.4.1875, Đề Đốc Cang được Tướng Dương Văn Minh gọi lên trình diện. Tướng Cang sợ Tướng Minh sẽ ra lệnh cho ông phải phối trí Hải Quân như thế nào, làm hỏng kế hoạch di tản do Mỹ đã vạch ra, nên không dám đi, mà cho Phó Đề Đốc Diệp Quang Thuỷ (Chuẩn Tướng), Tư lệnh Phó Hải quân kiêm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Hải quân đi thay. Sau đó, Tướng Cang tuyên bố giải tán Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH trên đài phát thanh Sài Gòn để không ai có thể ra lệnh cho Bộ Tư Lệnh này quay ngược lại vì Bộ Tư Lệnh này không còn, nhưng lực lượng Hải Quân vẫn giữ nguyên đội hình và chuẩn bị di tản. .
Khi Phó Đề Đốc Diệp Quang Thuỷ dến gặp Tướng Minh thì Tướng Minh cho biết tình hình đang biến động và ông bảo Bộ Tư Lệnh Hải Quân phải đặt Hải Quân trong tình trạng sẵn sàng để khi cần có thể di chuyển xuống Cần Thơ. Tướng Thủy xin tuân lệnh.
Tối hôm đó, khi biết được Đề Đốc Cang đã giải tán Hải Quân VNCH và đang dẫn lực lượng Hải Quân rời khỏi Sài Gòn, Tổng Thống Dương Văn Minh đã cấp thời ra khẩu lệnh cử Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Tấnhành xử quyền Tư Lệnh Hải Quân. Đại Tá Tấn đã ở lại và sau khi Sài Gòn mất, ông phải đi tù.
Vào nửa đêm 29 rạng ngày 30.4.1975, Đề Đốc Chung Tấn Cang đã đích thân chỉ huy Hạm Đội Việt Nam Cộng Hoà, gồm khoảng 26 chiến hạm, hải hành trực chỉ căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ tại Subic Bay, Phi Luật Tân, “trong trật tự và kỷ luật theo đúng truyền thống của quân chủng.” Trên trời có máy bay Mỹ thuộc Hạm Đội 7 bay theo yểm trợ. Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy ra khơi trên Tuần dương hạm HG-601 do Hải quân Đại uý Trần Minh Chánh chỉ huy.
Chuyện Tướng Chung Tấn Cang thành lập một mặt trận chống lại Cộng quân được Pierre Darcourt ghi lại trong cuốn hồi ký “Vietnam, qu’as tu fait de tes fils” là chuyện không hề có trong thực tế.
SỐ PHẬN CỦA NHỮNG KẺ MƠ MỌNG
Như vậy, người Mỹ đã giải thoát cho các tay chân bộ hạ của họ, đưa các phi cơ và chiến hạm đi, để một miền Nam sắp sụp đổ lại cho Tướng Dương Văn Minh và nhóm của ông, gồm những thành phần phản chiến, luôn đòi hoà hợp hoà giải với Cộng Sản như Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Vũ Văn Mẫu, Trần Ngọc Liễng, Hồ Văn Minh, Hồng Sơn Đông, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Nguyễn Hữu Chung, Lý Quí Chung, Lý Chánh Trung, v.v.
Dể kết thúc bài này, chúng tôi xin nhắc lại một lần nửa lời của Triết gia George Santayana (1863 – 1952)
Những người không thể nhớ quá khứ bị kết án tái diễn nó. Học từ quá khứ của chúng ta là cách duy nhất có trách nhiệm để chuẩn bị cho chính chúng ta về tương lai, nhất là khi quá khứ đó là chứng tích của thất bại đáng ghi nhớ.”
Ngày 30.4.2018
Lữ Giang

8 BÌNH LUẬN

  1. Thằng lính cùi như tôi sau khi hiệp đinh balê ký năm 1973 là cũng biết thằng Mỹ nó bõ mình , trong khi quân cộng sản nó còn nằm chỉnh ình ở Miền nam ngưng bắn da beo còn Vnch thì co cụm, vũ khí hư không có vụ 1 đỗi 1 như Mỹ nó hứa . Chẳng cần nhà quân sự hay chính trị con mẹ gì cũng biết anh Sam bõ đi , phủi tay sau khi cái mớ Vũ khí dư thừa dùng hết ,bắt tay Anh Chệt xong thì còn gì để ở lại gài anh Chệt chiếm HS ,tiếp tay vc chiếm miền nam Tàu Hải quân Mỹ uy hiếp Hai quân Vnch ngoài biến , ngày 29 tụi Mỹ còn chở thêm bom CBU vô Sài gòn ,phe mình lấy làm lạ không biết tụi Mỹ nó làm gì ,đúng là tụi Mỹ chơi vói nó nó bán đứng, đi với ngoại bang phe nào cũng Chết ,mà tụi cs Vn là lũ Ngu , anh em đánh nhau thì Tàu nó lợi ,/

  2. Vấn đề lữ Giang động đến người Mỹ hay không là chuyện không bàn ,chuyện bàn mà ông Trần hoài Thư comment là viết sai còn thòng thêm mấy ông hoà hợp hoà giãi vô , con mấy Cha nhận cs trong phong trào chống Tham nhũng thì câm họng , Lừ Giang là tên xuyên tạc đủ mọi chuyện. Lấy hình vụ nỗ bồn xăng bên phi châu Cháy chết người công queo ghép vào vụ Phật giáo và Hồi giáo bên Miến điện ,và vụ Chất độc Sarin bên Nhật chụp cho Phật giáo khủng bố ,tên nầy có tư tưởng bài Phật giáo. Trong trí não như đám cần Lao ,Nguyễn kim Khánh viết sách Hành hung xu phật đám nầy một lò mà ra , nhìn đâu cũng quáng gà ,địa mẹ chạy sút quần ra Hải ngoại đòi ông DVM tử thủ đúng là một lũ hèn

  3. Thằn lính cùi như tôi sau khi hiệp đinh balê ký năm 1973 là cũng biết thằng Mỹ nó bõ mình , trong khi quân cộng sản nó còn nằm chỉnh ình ở Miền nam ngưng bắn da beo còn Vnch thì co cụm, vũ khí hư không có vụ 1 đỗi 1 như Mỹ nó hứa . Chẳng cần nhà quân sự hay chính trị con mẹ gì cũng biết anh Sam bõ đi , phủi tay sau khi cái mớ Vũ khí dư thừa dùng hết ,bắt tay Anh Chệt xong thì còn gì để ở lại gài anh Chệt chiếm HS ,tiếp tay vc chiếm miền nam Tàu Hải quân Mỹ uy hiếp Hai quân Vnch ngoài biến , ngày 29 tụi Mỹ còn chở thêm bom CBU vô Sài gòn ,phe mình lấy làm lạ không biết tụi Mỹ nó làm gì ,đúng là tụi Mỹ chơi vói nó nó bán đứng, đi với ngoại bang phe nào cũng Chết ,mà tụi cs Vn là lũ Ngu , anh em đánh nhau thì Tàu nó lợi ,/

  4. Đã từ lâu, tôi luôn ngờ ngợ thấy có cái gì không ổn về biến cố Mỹ tham chiến và “tháo chạy” khỏi VN. Tất cả đều như có sự sắp xếp nào đó và độc đáo nhất là sự liên tục của tất cả mọi diễn tiến, dù có nhiều nghịch cảnh và thay đổi nhiều lãnh đạo qua các nhiệm kỳ tổng thống. Để cuối cùng, những sắp xếp ấy chỉ nhắm vào một mục đích tối hậu là PHỤC VỤ TỐI ĐA CHO QUYỀN LỢI CỦA NƯỚC MỸ.

    Tôi chỉ có điều không đồng ý với tác giả, trích đoạn:…”vào tháng 4 năm 1975, khi thấy tình hình Miền Nam Việt Nam đã đến giai đoạn không còn cứu vãn được, Mỹ đã sắp xếp cho miền Nam đầu hàng Bắc Việt”…(ngưng trích).

    Thật ra, cuộc “tháo chạy” ngày 30 tháng 4 của người Mỹ đã được dàn dựng rất bài bản. Tấn tuồng tháo chạy này, hay còn gọi là Mỹ bỏ rơi miền Nam, thật ra đã bắt đầu ngay khi HĐ Paris vừa mới ký xong, chưa ráo nét mực. Có rất nhiều biến cố hoặc sự cố, tưởng là chẳng có liên hệ gì đến toan tính rút lui của người Mỹ mà thật ra lại là những nhân tố quyết định, thử điểm ra một vài việc mà tôi cho rằng, tất cả những người đã sống ở thủ đô Sài gòn trong những ngày hấp hối của chế độ VNCH đều phải nhớ:

    – Để TT Thiệu yên tâm khi bị buộc phải ký vào HĐ Paris, TT Nixon phải viết một lá thư đề ngày 17/01/ 1973, cam kết với TT Thiệu là nếu sau nay CSBV có xâm lăng miền Nam, TT Nixon sẽ đích thân ra lệnh ném bom BV để trừng trị chúng. Lá thư và lời cam kết này thật ra chẳng có một tí giá trị pháp lý nào như chúng ta đã biết.

    – Biết TT Thiệu sẽ chống cộng đến cùng, người Mỹ một mặt cắt giảm viện trợ quân sự cho VNCH làm suy yếu tiềm lực quân đội, một mặt sách động những phong trào phá hoại hậu phương VNCH. Điển hình nhất, tai tiếng nhất là “phong trào nhân dân chống tham nhũng” của LM Trần Hữu Thanh. Là một nhà tu, làm gì mà LM Trần Hữu Thanh có được trong tay những tài liệu xác thực để dẫn chứng trong những “Bản Cáo Trạng” chống tham nhũng, chống chế độ TT Thiệu, nếu không do tình báo Mỹ cung cấp?

    – Về phía Mỹ, tôi cho rằng TT Nixon viết lá thư cam kết ấy với cả thành tâm, nghĩa là ông sẽ giữ đúng lời. Có điều, trong lúc “người Mỹ” lúc bấy giờ thì chỉ muốn rút thật nhanh về nước thì đường lối của TT Nixon có khác gì là con kỳ đà cản mũi họ? Thế là họ gài TT Nixon dính vào vụ Watergate, bị báo chí bôi bẩn, dư luận chống đối ồn ào đến nỗi ông phải từ chức. Mà thật ra thì chuyện có đáng gì cho cam? Chuyện các đảng phái đặt máy nghe lén nhau là chuyện xưa như trái đất, không phải chỉ đến lúc TT Nixon lên cấm quyền thì nó mới xảy ra. Thế nhưng, VNCH đã mất đi người bạn cuối cùng chỉ vì cái chuyện không đâu ấy.

    – Sau khi cao nguyên thất thủ, thấy TT Thiệu vẫn hung hăng muốn chống cộng đến cùng, “người Mỹ” đành phải hạ thủ. Ngày 8/04/1974, Trung uý Nguyễn Thành Trung đã lợi dụng xuất kích theo phi đoàn F5 để quay đầu về ném bom Dinh Độc Lập. Theo những tài liệu mà VC tiết lộ sau ngày chiếm đóng Sài gòn, Nguyễn Thành Trung đã là một đặc công nằm vùng của VC. Một phi công không có gì nổi bật, có nhận chỉ thị thường xuyên của cấp trên, khơi khơi qua mặt an ninh quân đội VNCH và CIA từ năm này qua năm kia mà không bị phát hiện, là cả một sự vô lý? Nó vô lý không khác gì sự kiện anh em nhà Kennedy bị ám sát đã hơn nửa thế kỷ nay, ngay trước mắt hàng ngàn người mà nguời Mỹ không thể tìm ra chánh phạm.

    Ai còn nhớ đến một hành động tương tợ vào năm 1962, khi người Mỹ muốn nhảy vào miền Nam nhưng lại bị anh em Diệm-Nhu cự tuyệt, đó là biến cố hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái Skyraider A-1 ném bom Dinh Độc Lập để ám sát anh em họ Ngô, nhưng bất thành? Sự im lắng quá nhanh của báo chí sau vụ ám sát hụt này làm tôi vẫn nghi là ít nhiều gì cũng có bàn tay người Mỹ đằng sau.

    – Khi vùng 2 chiến thuật, tức là Cao Nguyên, thất thủ thì chiến trường miền Nam bỗng như bỏ ngõ. CSBV tiến rất nhanh vào miền Nam như đi vào chỗ không người, không phải do chúng thiện chiến hoặc có dư nhân lực lẫn hỏa lực, mà CHỦ YẾU LÀ QLVNCH ĐÃ BỎ CHẠY TRƯỚC KHI GIAO CHIÊN! QLVNCH đua nhau tháo chạy vì phần lớn đã thấy rõ là Mỹ sẽ bỏ rơi VNCH, đơn giản chỉ có thế! Tuy nhiên, sự tan rã quá nhanh của QLVNCH đã làm người Mỹ e rằng họ sẽ không rút kịp người của họ, lúc ấy phần nhiều vẫn còn kẹt lại ở miền Nam. Người Mỹ phải làm cách nào để giúp các quân nhân miền Nam cầm chân CSBV đủ lâu, hầu cho họ (người Mỹ) có đủ thời giờ rút hết nhân sự? Nó đã xảy ra như vầy: trước tiên, người Mỹ khuyến khích VNCH gởi ngoại trưởng Trần Văn Lắm qua điều trình trước Quốc Hội Mỹ về tình hình chiến sự VN và để xin viện trợ. Để ra vẻ quan tâm, ngày 28 tháng 3 năm 1975, NGƯỜI MỸ ĐÃ PHÁI TUỚNG WEYAND QUA ĐIỀU NGHIÊN TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ Ở VN VÀ TUYÊN BỐ NHỮNG ĐIỀU CÓ LỢI CHO VNCH, trong đó có một câu rất đáng nhớ: “TINH THẦN CHIẾN ĐẤU CỦA QLVNCH VẪN VỮNG VÀNG, HIỂU THEO BẤT KỲ Ý NGHĨA NÀO CỦA CÂU NÓI NÀY”. Và sau đó là ồn ào lập cầu không vận quân viện vũ khí, đạn dược khẩn cấp cho QLVNCH, dùng đến cả vận tải cơ khổng lồ C5 Galaxy thì ai mà chả tin là người Mỹ thật lòng? Chao ơi, cả một màn tuồng diễn ra thật nhịp nhàng và ăn ý! Quân viện “khẩn cấp” của Mỹ ngay sau chuyến đi của Tướng Weyand THẬT RA CHỈ ĐỦ TIẾP TẾ VÀ HUY ĐỘNG TINH THẦN CHẾN ĐẤU CỦA QLVNCH ĐÚNG MỘT THÁNG, NGHĨA LÀ ĐỦ THỜI GIAN ĐỂ NGƯỜI MỸ RÚT KỊP NHÂN SỰ TỐI CẦN CỦA HỌ. Thế mà cá cũng cắn câu! QLVNCH đã xử dụng những súng đạn mới nhất, dùng cả bom chùm CBU ở mặt trận Long Khánh và nhất là đem cả xương máu của chính mình ra ngăn chận bước tiến của CSBV để người Mỹ có đủ thời giờ rút lui an toàn!

    Cám ơn ông Lữ Giang. Nói động tới Mỹ trên diễn đàn này thì quả là ông gan tày trời! Nhưng tôi đồng lòng với ông ở chỗ: ông nói ra không phải là để kết án hoặc buộc tội người Mỹ, mà là để khuyên người Việt các thế hệ sau cần phải coi lại bài học lịch sử của VNCH hầu luôn cảnh giác với những “tình bạn” hoặc “đồng minh” kiểu Mỹ!

    Học đã khó, áp dụng thì càng khó hơn! Quê hương VN biết bao giờ mới thoát khỏi sự áp đặt và an bài vận mệnh dân tộc mình của cả “bạn” lẫn thù?

  5. chuyện đâu còn có đó, hãy ghi nhận và tìm hiểu thêm.Đâu ai bat phải tin cả, hãy dùng caí đầu trước khi dùng cái miệng. Còn mmuosn phê bình thì hãy lấy bao đá lạnh để trên đầu…hạ hỏa

  6. Ông Minh từ chối đi tản chỉ gởi rể và con gái cùng Tướng Xuân theo hải quân và khuyên Hải quân nên ra đi sớm để khỏi bị chận ,không có tài liệu nào nói ông Minh bảo ông Diệp Quang Thuỷ chuẩn bị di tản về cần thơ ,ông Diệp Quang Thuỷ còn sống và có khen ông Minh. về quyết đi định can đãm khi chọn ở lại ,Cha lữ Giang lúc nào cũng xuyên tạc , còn chuyện phi cơ tự nhiên phát nỗ xin hỏi lại các anh em không Quân ,lúc đó chẳng có ai mà ra lịnh để phá hủy vũ khí , cả một Tổng kho long bình có để nguyên cho vc nó Sài ,còn mấy ông Cha công giáo như Thanh lãng Phan khắc Từ Ngọc lan Chân Tín tên già nầy không giám đụng đến ,đúng là tên giáo gian

    • chinh xac, cha nay nguyen cha me dat cho la:” Lu Gian” (khong g) chu giao gian la con nhe, chuyen xuyen tac su that lich su, ma luon huynh hoang la viet lich su.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Tên