Dân Việt Nam: Một khối nhân quần đang ở tuổi thiếu niên

10

Năm 1916 Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu  viết bài thơ ngắn “Bính Thìn Xuân Cảm,” trong đó có hai câu lừng danh, Dân hai lăm triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Hơn 100 năm sau, cho đến ngày hôm nay, 2021, nhìn vào con người, chính thể và văn hóa Việt Nam tổng quan, chúng ta nên tự vấn, Nước và Dân ta đã hết trẻ con chưa? 

Theo tôi, câu trả lời là Chưa. Dân ta, như là một khối nhân loại trên trường tiến hóa tâm thức, vẫn còn mang nặng bản chất trẻ con. Dù có trưởng thành lên chút ít, nhưng tựu chung thì Việt Nam vẫn còn đang ở trong giai thời thiếu niên, và chưa thực sự trưởng thành.

Từ bản sắc Sử tính sợ hãi ‘the unknown’

Từ trong chiều dài Sử tính Việt, mặc cảm tự ty của một tâm thức nô lệ của dân tộc nầy đã biến hóa ra thành nhiều dạng thức mà bản chất vẫn là phủ định, tiêu cực.  Lòng hận thù và sợ hãi ngoại bang là động cơ chính cho lòng yêu nước, rồi thành chủ nghĩa yêu nước, thứ dừng lại ở ý thức hệ quốc gia – rồi trở thành một tôn giáo, một giáo điều. Những lễ lạt ‘về cội nguồn’ ngày càng rầm rộ gần đây là một bằng chứng.

Tổ quốc trở thành thần linh – một sự hình thành ý thức dân tộc gần giống như là của dân Do Thái khi họ tự coi nòi giống họ, đất nước họ, là con và của riêng của Chúa Trời.

Có hai hình thái chủ nhân, masters, của dân Việt vốn phát xuất từ tâm thức nô lệ. Về địa lý chính trị thì ông chủ là Trung Hoa; về sinh mệnh và biến cố thì chủ thể là số Trời.  Tinh hoa Sử tính Việt là của một năng ý phủ định và vươn thoát hai ông chủ khắc nghiệt đó nhằm kiến tạo cho chính mình một Sử Mệnh mới.

Qua chiều dài Sử tính khắc nghiệt đó, và vì mang tâm thức thuần phủ định trong lòng yêu nước – đối với ngoại bang – Sử tính Việt thiếu hẳn đi một năng ý tích cực và tự tin cần thiết.  Tính tích cực nội tại nầy là thiết yếu vốn đòi hỏi mỗi con dân Việt phải tự mình chuyển hóa chính mình, đứng dậy mà trưởng thành và lớn lao lên trên cơ bản cá nhân – để từ đó xây dựng quốc gia trên nền tảng định chế đại thể và giá trị nội tại cho nhu cầu bảo vệ tổ quốc đồng thời đưa đất nước lên đến một tầm mức tiến hoá cao hơn theo nhịp trống thời đại.

Sự khiếm khuyết của một bản sắc tích cực trong năng thức Việt đã tạo ra một lịch sử hiện thân cho khuyết điểm nầy.  Điều nặng nề là tâm ý Việt vừa sợ và vừa thần phục Trung Hoa – và sau này cũng như thế đối với Pháp và các cường quốc Âu Mỹ.  Ta luôn đối đãi với Trung Quốc và Âu Mỹ với một tâm thức nô lệ – vừa tự ty mặc cảm đồng thời hãnh diện bất khuất, vừa thần phục nhưng ghét bỏ. 

Từ mặc cảm tự ty và bất an, cái Ta của người Việt, khi đặt trước Văn minh Trung Hoa, nhìn ra đại dương ta thấy nó là một giới hạn.  Trong khi đó, người Tây Âu cũng nhìn ra đại dương và đã thấy nó là cơ hội. Vì cái Ta dân tộc nầy, nước nhược tiểu, chưa bao giờ có khả năng lớn mạnh đủ để thử thách cơn sóng lớn của biển khơi, để đứng ngang hàng với các cường quốc khác. 

Cũng đã có vài lần trong chiến sử, các hạm đội của hải quân Việt Nam  đã chứng tỏ một sức mạnh ấn tượng – như thời Nguyễn Ánh –  nhưng tất cả cũng chỉ vừa đủ cho nhu cầu chiến tranh ngắn hạn, chứ chưa hề là hiện thân cho một ý chí thử thách đại dương và làm chủ lãnh hải. 

Cho đến sau 1975, từ cao trào vượt biển tỵ nạn thì lần đầu dân Việt mới ít nhiều vượt qua tâm lý sợ hãi và tiêu cực đối với đại dương.  Nhưng nên nhớ rằng, phần lớn người Việt vượt biển lúc đó đã biết hành trình sẽ đến nơi nào – chứ không như người Tây Âu nhiều thế kỷ trước, khi lên tàu bước ra khơi họ – dân TâyBan Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan…đã không biết là đại dương như thế nào và sẽ đi về đâu.  Thử thách cái không biết đến, the unknown, vẫn là sức mạnh của người Tây Âu.  Cho ý chí và tinh thần thử thách tương lai thì dân Việt vẫn còn yếu kém.

Thiếu sáng tạo và lười biếng về tư duy

Tiếp theo, từ trong tâm thức tiêu cực và chấp nhận, văn hóa Việt gần như hoàn toàn là một văn hóa trích mượn – a derivative cultureNó thể hiện tâm chất bất an và thiếu tự tin.  Do đó, họ vừa cực đoan và vừa nhu nhược. Như tôi thấy trong cộng đồng người Việt ở Mỹ rất nhiều vụ việc hễ người khác xúc phạm người Việt thì chúng ta phản ứng mạnh mẽ cao độ.  Nhưng chỉ cần một thế hệ, hầu hết con cháu ta đã từ bỏ, hoặc không màng gì đến những bản sắc văn hóa Việt. 

Dân Việt nói chung rất thiếu tự tin về nguồn gốc dân tộc mình. Không như dân Ấn Độ hay gốc Hoa ở Mỹ đến mấy thế hệ vẫn còn sử dụng một cách tốt và hãnh diện ngôn ngữ, y phục, phong hóa tập thể trong cộng đồng họ. Trong khi đó, chỉ cần hai thập niên thì người Việt gần như từ bỏ hết bản sắc gốc gác của họ. Từ ngôn ngữ, cách đặt tên cho con, từ cách nhuộm tóc hoe vàng cho đến cung cách văn hóa tập thể, cái Ta của người Việt ở hải ngoại là hiện thân của hai mặt tiêu cực từ một tâm thức bất an và nô lệ đó.  Tất cả đều có nguồn gốc từ Sử tính Việt như đã trình bày ở trên.

Hãy nhìn vào thế giới tri thức. Người cầm bút Việt Nam hầu như chỉ có làm được ba chuyện: làm thơ, viết truyện ngắn, và dịch thuật sách ngoại ngữ.  Ngay cả về văn chương, văn sĩ Việt vẫn không có khả năng viết chuyện dài, hay trường thiên tiểu thuyết.  Trí thức Việt không có ý chí đại thể lớn lao về năng lực tri thức.  Họ không có đủ tự tin – dù rất có thể là về khả năng thì họ có đủ – để sáng tạo lý thuyết, triết học cho mình. 

Hơn nữa, trí thức Việt mang bệnh lười biếng suy nghĩ sáng tạo.  Họ nỗ lực cao độ – nhưng phải dựa vào một nội dung có sẵn.  Vì vậy, họ chỉ thích dịch sách mà thôi.  Vì công việc phiên dịch, chuyển ngữ, họ không cần suy nghĩ về khái niệm, về ý tưởng, về cấu trúc bố cục cho sách.  Họ ưa tranh luận về câu văn, cụm từ nào đó có dịch cho đúng với ý nghĩa theo văn bản tiếng ngoại quốc hay không.  Họ không bàn đến ý nghĩa của khái niệm hay lý thuyết. Họ chỉ muốn tranh cãi về những tiểu tiết – the trivial facts – vốn chỉ là vay mượn.

Hoang tưởng văn hóa và giấc mơ cường quốc…buôn đất

Tâm ý Việt mang nội dung bất an của một dân tộc, vừa hãnh tiến nhưng đồng thời cũng không đủ tự tin về văn hóa của mình.  Từ đó, vì thiếu chiều dày tích lũy giá trị của một nền văn minh có chiều sâu, trí thức Việt mang ý chí huyền thoại hóa lịch sử dân tộc và sáng tác ra những câu chuyện văn hóa Việt cổ đại huyễn hoặc để tự phong cho dân Việt là tác giả của những nguồn mạch văn hóa lớn – chứ không phải của Trung quốc. Hai vị trí thức đáng kính gần đây, Kim Định và Lê Mạnh Thát, là biểu trưng cho năng ý huyền thoại hóa văn hóa Việt nầy.

Về chính trị địa lý thì giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, than ôi, vẫn mang điều hoang tưởng về khả thể cường quốc – một “tiểu Trung Hoa” theo mô hình xã hội chủ nghĩa mơ hồ, ‘vì lý tưởng XHCN’ bền hơn ở quê hương của nó. Họ thực ra bị chi phối bởi tầm nhìn ngắn hạn và thực dụng. Sự loay hoay giữ hoang tưởng vĩ cuồng cho quốc gia trung thành với  ý thức hệ Marx-Lenin đã bị châu Âu đào thải đang gây mâu thuẫn trầm trọng với khả năng kinh tế và chính trị của thể chế cũng như của giới doanh nhân Việt.

Hãy nhìn đến nguồn gốc của sự giàu có của giới đại gia Việt – hầu hết, gần như tuyệt đối, là nhờ kinh doanh bất động sản.

Hãy thử đi ngang qua những khu chung cư cao tầng ở Hà Nội hay Sài Gòn, ta sẽ thấy một quang cảnh phát triển phố thị vô lý – và nhất là phản cảm, thiếu thẩm mỹ. Từ đường Nguyễn Hữu Cảnh ở Sài Gòn, khi nhìn vào khu chung cư cao tầng Central Park, ta sẽ rùng mình bởi một cảnh tượng xây cất mang sắc thái hiếp đáp hồn người. Quang cảnh phố thị với những nhà cao tầng thiếu thẩm mỹ đã triệt tiêu cái đẹp của tâm hồn người phố thị.

Ở Sài Gòn hiện nay, hầu hết các dự án căn hộ cao cấp đều dành cho giới siêu giàu để họ đầu cơ với chính sách thuế khóa vô lý, phản tiến bộ  – trong khi giới trung lưu (tương lai của dân chủ) và nghèo khó đang đối mặt với khủng hoảng gia cư trầm trọng.

Mặc cảm quốc tế và nhu cầu trưởng thành

Vậy hôm nay chúng ta đang ở đâu trên Trái Đất này?

Nhìn lại, ý chí Sử tính quốc gia đối với Trung Hoa, và sau là đứng trước Âu Mỹ, hệ thống chính trị Việt Nam muốn được coi trọng và công nhận một cách chính thức, nhưng ít đủ dũng cảm để tạo vị thế mà không cầu xin.

Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng Hán, Nguyên, Minh, Mông, Thanh các vua chúa Việt Nam phải cử sứ thần sang Trung Hoa để triều cống và xin được phong vương vị. 

Về chiến thuật, dĩ nhiên, đó là công việc ngoại giao mềm mỏng, ổn định quan hệ quốc tế với đại cường để phục hồi và xây dựng sau chiến tranh. 

Nguyễn Trãi là một trường hợp điển hình. Dù là tác giả của Bình Ngô Đại Cáo oai phong, tuyệt vời cả về văn ngữ lẫn tinh thần nội dung, nhưng khi đọc Trung Quân Từ Mệnh Tập mà Nguyễn Trãi đã viết thay mặt Lê Lợi gởi cho nhà Minh, chúng ta cũng không khỏi ngậm ngùi cảm nhận được cái nhục nhã, cái thái độ khom mình cúi đầu thần phục đối với phương Bắc. Thế nhưng dần dần chiến thuật nhún nhường cần thiết với nghi thức phong kiến và ngôn ngữ của kẻ yếu đã trở nên một bản chất cá tính của tầng lớp chính trị Việt. 

Bản sắc cá tánh muốn được công nhận ảo này còn thành ‘yếu tố di truyền’ trong văn hóa bằng cấp, học hàm , học vị của người Việt.  Với truyền thống thi đỗ thì được làm quan để cho cả họ được nhờ, học vị khoa bảng đã trở thành chìa khóa cho thực tại tiến thân trong xã hội – cũng như cho tâm ý được coi trọng và công nhận giá trị nhân bản bởi tha nhân và đại thể khách quan. Ta chỉ là một công dân khi được có bằng cấp, hay chức vị trong triều đình. Ta chỉ hiện hữu khi Ta được công nhận bởi tha nhân. Từ đó, cái Ta được định hình bằng cái không-Ta, mà bản chất là một biện chứng tiêu cực có gốc rễ từ một tâm ý nô lệ. Bệnh cầu cạnh khoa bảng danh vọng còn đang rất thịnh hành trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Bạn hãy suy nghẫm về kinh nghiệm bản thân khi tiếp xúc, giao tiếp, làm ăn, sinh hoạt với người Việt ta. Không ít người lớn tuổi, bằng cấp học vị, học hàm, chức vụ, nghề nghiệp, kể cả giới tu sĩ các tôn giáo hay lãnh đạo chính trị, nhà nước, trong hay ngoài nước, vẫn mang tính tình niên thiếu.

Nếu bạn có dịp giao tiếp hay làm việc với người Âu Mỹ thì sẽ thấy rằng họ – người phương Tây – chững chạc, trưởng thành hơn chúng ta nhiều, kể cả khi họ không có bằng cấp cao, hay khi còn rất trẻ tuổi. Dĩ nhiên là cũng có những thành phần quần chúng lao động Mỹ chẳng hạn, vẫn còn mang nặng tính tình trẻ con.

Thế nhưng tôi dám nói rằng nhìn tổng thể, đại đa số dân Việt khắp thế giới, vẫn là một tập thể chưa chín chắn, rất bồng bột, hơi ngây thơ và nhiều hoang tưởng.  Nhìn vào các cộng đồng mạng xã hội mấy năm nay để thấy được cái tệ hại của sự thiếu trưởng thành và tính trẻ con thích cãi lộn. Có người đã nhận xét rằng hãy lên Facebook để thấy cái bản mặt xấu xí của dân Việt – the truly ugly side of Vietnameseness – với tính tình nặng chất trẻ con của họ là như thế nào.

Từ đó, người Việt, tuy là trẻ con – và cũng vì thế – không thể ngồi chung, làm việc với nhau trên bình diện dân sự. Nguyên do chính là vì dân ta thiếu vắng văn hóa cộng đồng. Người Việt không thể thành lập hội đoàn dân sự vững mạnh, lâu dài, uy tín. Hầu hết các tổ chức tự nguyện người Việt khắp thế giới đều tự tan rã vì không ai chịu ai. Hệ quả là nền văn hóa duy tập thể của Đảng Cộng Sản Việt Nam – ít nhất là trong nước – hình như là câu trả lời cần thiết và đương nhiên cho sự khiếm khuyết của chất keo văn hóa dân sự và công dân đó.

Không lẽ hơn trăm năm sau, nay ta lại phải ngâm tiếp bài thơ đó của Tản Đà, rằng, Cám cảnh khói cây mờ mịt biển. Lo đời sương tuyết bạc đầu non.

Nguyễn Hữu Liêm

10 BÌNH LUẬN

  1. Đại tộc Nguyễn hữu là công thần của trào Gia Long có lẽ đã khiến Nguyễn hữu Liêm nghĩ mình là “hậu duệ” (?), liền thiên lệch viết “Cũng đã có vài lần trong chiến sử, các hạm đội của hải quân Việt Nam đã chứng tỏ một sức mạnh ấn tượng – như thời Nguyễn Ánh – nhưng tất cả cũng chỉ vừa đủ cho nhu cầu chiến tranh ngắn hạn…”,
    Ông ta liền chọn lập trường xa lạ với lòng tự hào dân tộc, rằng chính Quang Trung Nguyễn Huệ- kẻ thù Nguyễn Ánh, mới là một vĩ nhân của hải quân Việt nam.
    Rất nhiều tài liệu lịch sử, kể cả của người Pháp, ca tụng lực lượng thuỷ binh của Tây sơn. Đáng tiếc các link dẫn chứng không thể đưa vào đây để chứng minh, vì không cho đăng.
    Xin trích:
    “Dù thủy quân Nguyễn Ánh đã có 2 tàu Tây và người Tây chiến đấu dũng cảm như Emmanuel, song cũng không địch nổi thủy quân Tây Sơn.
    Barizy tường thuật về lực lượng của hạm đội Tây Sơn do Vũ Văn Dũng chỉ huy như sau:
    “Lực lượng này gồm có 673 chiến hạm đủ cỡ lớn nhỏ. Trong số này, có những chiến hạm lớn trang bị súng đại bác và thủy thủ đoàn nhiều hơn cả những chiến hạm lớn nhất kiểu Tây phương mà quân Nguyễn có”.
    Một số lớn thuyền chiến của Tây Sơn được trang bị pháo, nhằm tăng cường hỏa lực, tạo nên mũi đột kích có sức công phá và tiêu diệt lớn.
    Sử cũ ghi: “Thuyền Tây Sơn đến cửa Hội thuộc Hội An, trấn thủ Bùi Thế Toại (tướng của Nguyễn vương) đốt doanh trại, bỏ trốn chạy. Thuyền (Tây Sơn) như đi vào chốn không người, như gió, lướt đến đâu, không ai dám chống cự”
    Chỉ vì chút tình riêng, Liêm đã không giữ được công tâm khi viện dẫn lịch sử, thì ai dám bảo đảm Liêm không dám chửi nát hồn thiêng đất nước, dân tộc, trong một dịch vụ với thế lực thù địch ngoại bang, vốn không tiếc công của đổ ra nhằm nổ lực phá hoại lịch sử chống xâm lăng của VN, lung lạc lòng yêu nước của dân tộc ta, cho mục tiêu thôn tính nước ta!

    Hãy chịu khó đọc cho hết bài “Dân Việt Nam: Một khối nhân quần đang ở tuổi thiếu niên”,
    đọc lại và đọc lại…cho thật kỷ, từng câu từng chữ…

    để thấy hết miệng lưỡi độc ác của tác giả Nguyễn hữu, một nổ lực mà chỉ kẻ thù của VN mới đủ quyết tâm bỏ công sức đục phá từ cái nền móng của văn hiến nước Việt cho đến thói quen ăn uống ỉa đái làm tình của giống nòi mà anh ta cũng đang cùng mang gene!
    Đồng tâm đồng chí với Nguyễn Hữu Liêm hôm nay ở đây, ta còn có Nguyễn Duy Chính và Trần Quang Đức, những kẻ cùng nhau nổ lực ra sức bôi tro trét trấu Vị Anh hùng Dân tộc Nguyễn Huệ trong các bài đăng trên BBC tiếng Việt.

    NDuy Chính thì xuyên tạc nguyền rủa vu khống Quang Trung trong cuộc hành quân ra Bắc Hà diệt quan quân Thanh xâm lăng, xuân Kỷ Dậu.
    Đáng tiếc không được phép đăng link để các bạn xem.

    Tuy nhiên bạn có thể vào google gõ tag sau:
    Đọc lại: Hoàng đế Quang Trung ra Bắc.
    Sẽ có toàn văn bài báo dài cả mấy mét của anh này!

    Và bài của Trần Quang Đức mô tả vua Quang Trung bệ rạc như một gã hút thuốc phiện hom hem 70 tuổi, trong khi vị vua anh hùng của chúng ta là một dũng tướng đánh Chiêm dẹp Tàu, mất lúc mới 39 tuổi.
    Xin vào google viết tag
    Trần Quang Đức: Tranh chân dung Quang Trung gần sự thật hơn cả
    Bạn sẽ đọc được link bị cấm nầy

    Chúng ta không lạ gì, bao năm rồi, kẻ thù phương bắc luôn muốn phá nền tảng vững chắc của dân tộc VN. Đó là lòng tự hào về lịch sử chống Bắc xâm, quyết tâm đi theo một sinh lộ độc lập bài Hán.
    Cho dù luôn có những đứa phản quốc bán mình cho giặc, làm tôi đòi tay sai, làm biệt kích phá hoại đất nước từ trong ra, từ lãnh thổ, nội trị tới môi trường dịch bệnh, từ chính trị đến văn hoá học thuật.
    Chúng cứ chăm chăm muốn “cải cách chữ viết” (Bùi Hiền và nhiều tên khác kế tục) để biến cả một dân tộc trở thành mù chữ đối với toàn bộ lịch sử VN cùng kho tàng văn chương nước nhà.
    Chúng muốn đưa chữ Hán vào các bậc phổ thông làm sinh ngữ chính…

    Và hôm nay…là những dòng chữ sâu độc xuyên tạc cường điệu phá nát tâm hồn người Việt, để tuổi trẻ Việt, tư duy còn non nớt, sẽ chán nản tự thân dòng giống, buông thả lý tưởng giữ nước…
    ngỏ hầu “bọn chúng cùng nhau” dần dà xoá bỏ quốc hiệu Việt Nam!

    Chấp nhận không, hỡi dân Việt Nam?!

  2. Đại tộc Nguyễn hữu là công thần của trào Gia Long có lẽ đã khiến Nguyễn hữu Liêm nghĩ mình là “hậu duệ” (?), liền thiên lệch viết “Cũng đã có vài lần trong chiến sử, các hạm đội của hải quân Việt Nam đã chứng tỏ một sức mạnh ấn tượng – như thời Nguyễn Ánh – nhưng tất cả cũng chỉ vừa đủ cho nhu cầu chiến tranh ngắn hạn…”,
    Ông ta liền chọn lập trường xa lạ với lòng tự hào dân tộc rằng chính Quang Trung Nguyễn Huệ- kẻ thù Nguyễn Ánh, mới là một vĩ nhân của hải quân Việt nam.
    Rất nhiều tài liệu lịch sử, kể cả của người Pháp, ca tụng lực lượng thuỷ binh của Tây sơn. Đáng tuếc các link dẫn chứng không thể đưa vào đây để chính minh vì không cho đăng.
    Xin trích:
    “Dù thủy quân Nguyễn Ánh đã có 2 tàu Tây và người Tây chiến đấu dũng cảm như Emmanuel, song cũng không địch nổi thủy quân Tây Sơn.
    Barizy tường thuật về lực lượng của hạm đội Tây Sơn do Vũ Văn Dũng chỉ huy như sau:
    “Lực lượng này gồm có 673 chiến hạm đủ cỡ lớn nhỏ. Trong số này, có những chiến hạm lớn trang bị súng đại bác và thủy thủ đoàn nhiều hơn cả những chiến hạm lớn nhất kiểu Tây phương mà quân Nguyễn có”.
    Một số lớn thuyền chiến của Tây Sơn được trang bị pháo, nhằm tăng cường hỏa lực, tạo nên mũi đột kích có sức công phá và tiêu diệt lớn.
    Sử cũ ghi: “Thuyền Tây Sơn đến cửa Hội thuộc Hội An, trấn thủ Bùi Thế Toại (tướng của Nguyễn vương) đốt doanh trại, bỏ trốn chạy. Thuyền (Tây Sơn) như đi vào chốn không người, như gió, lướt đến đâu, không ai dám chống cự”
    Chỉ vì chút tình riêng, Liêm đã không giữ được công tâm khi viện dẫn lịch sử, thì ai dám bảo đảm Liêm không dám chửi nát hồn thiêng đất nước, dân tộc, trong một dịch vụ với thế lực thù địch ngoại bang, vốn không tiếc công của đổ ra nhằm nổ lực phá hoại lịch sử chống xâm lăng của VN, lung lạc lòng yêu nước của dân tộc ta, cho mục tiêu thôn tính nước ta!

    Hãy chịu khó đọc cho hết bài “Dân Việt Nam: Một khối nhân quần đang ở tuổi thiếu niên”,
    đọc lại và đọc lại…cho thật kỷ, từng câu từng chữ…

    để thấy hết miệng lưỡi độc ác của tác giả Nguyễn hữu, một nổ lực mà chỉ kẻ thù của VN mới đủ quyết tâm bỏ công sức đục phá từ cái nền móng của văn hiến nước Việt cho đến thói quen ăn uống ỉa đái làm tình của giống nòi mà anh ta cũng đang cùng mang gene!
    Đồng tâm đồng chí với Nguyễn Hữu Liêm hôm nay ở đây, ta còn có Nguyễn Duy Chính và Trần Quang Đức, những kẻ cùng nhau nổ lực ra sức bôi tro trét trấu Vị Anh hùng Dân tộc Nguyễn Huệ trong các bài đăng trên BBC tiếng Việt.
    ND Chính thì xuyên tạc nguyền rủa gu khống Quang Trung trong cuộc hành quân ra Bắc Hà diệt quan quân Thanh xâm lăng, xuân Kỷ Dậu.
    Đáng tiếc không được phép đăng link để các bạn xem.
    Tuy nhiên bạn có thể vào google gõ tag sau:
    Địc lại: Hoàng đế Quang Trung ra Bắc.
    Sẽ có toàn văn bài báo dài cả mấy mét của anh này!
    Và bài của Trần Quang Đức mô tả vua Quang Trung bệ rạc như một gã hút thuốc phiện hom hem 70 tuổi, trong khi vị vua anh hùng của chúng ta là một dũng tướng đánh Chiêm dẹp Tàu, mất lúc mới 39 tuổi.
    Xin vào google viết tag
    Trần Quang Đức: Tranh chân dung Quang Trung gần sự thật hơn cả
    Bạn sẽ đọc được link bị cấm nầy
    Chúng ta không lạ gì, bao năm rồi, kẻ thù phương bắc luôn muốn phá nền tảng vững chắc của dân tộc VN. Đó là lòng tự hào về lịch sử chống Bắc xâm, quyết tâm đi theo một sinh lộ độc lập bài Hán.
    Cho dù luôn có những đứa phản quốc bán mình cho giặc, làm tôi đòi tay sai, làm biệt kích phá hoại đất nước từ trong ra, từ lãnh thổ, nội trị tới môi trường dịch bệnh, từ chính trị đến văn hoá học thuật.
    Chúng cứ chăm chăm muốn “cải cách chữ viết” (Bùi Hiền và nhiều tên khác kế tục), muốn đưa chữ Hán vào các bậc phổ thông làm sinh ngữ chính…
    Và hôm nay…là những dòng chữ sâu độc xuyên tạc cường điệu phá nát tâm hồn người Việt, để tuổi trẻ Việt, tư duy còn non nớt, sẽ chán nản tự thân dòng giống, buông thả lý tưởng giữ nước…
    ngỏ hầu “bọn chúng cùng nhau” dần dà xoá bỏ quốc hiệu Việt Nam!

    Chấp nhận không, hỡi dân Việt Nam?!

    • Xin lỗi các bạn, vì bức xúc bị chận comment nên đánh nhiều chữ sai chính tả. Xin huỷ bỏ còm kế trên, và xin đọc còm trên cùng. Cám ơn.

  3. Chả biết cha nội nầy viết về cái
    chi !

    Ngôn ngữ thì tối om,cố gắng
    dùng những triết lý mơ hồ để
    biện luận cho cái tội ác bán
    nước,đưa cả một dân tộc lún
    sâu vào cảnh ngu dốt mọi rợ
    bán khai . Để hòng dễ bề cái
    trị.

  4. *Trên thảo nguyên cùng chung sống nhiều loài.
    Có những loài ăn cỏ thì to con nhưng không nanh vuốt vì không cần săn mồi- voi, trâu rừng, sơn dương đầu bò…không quen đánh nhau với bọn ăn thịt, chỉ tự vệ.
    Cho nên sơn dương thường chạy để thoát thân, lấy số lượng mới sinh bù cho số bị ăn thịt để giống nòi tồn tại; hoặc co cụm lại che các con non như voi, trâu rừng; giằng co với bọn mèo lớn để cùng có được nguồn thức ăn và nước uống, chấp nhận nằm trong chuỗi thức ăn của sư tử, hùm beo.
    Những con nhỏ hơn như linh cẩu, chó rừng…không đủ sức vóc săn mồi thì sống bám, theo ăn ké bọn đi săn, đôi khi cướp giựt mồi của loài chuyên săn như báo, sư tử cái…nếu tương quan lực lượng nghiêng về chúng.
    Mỗi loài có những cách sinh tồn riêng, tuỳ theo đặc tính năng lực thể chất bẩm sinh của chủng loại, từ thuở hồng hoang, gần như tiền định.

    *Đem so sánh với đám dã thú trên thảo nguyên thì có lẽ quá đáng, không phải đạo,
    nhưng các cộng đồng người trên địa cầu mang bản chất cạnh tranh sinh tồn từ nghìn xưa không hề tách biệt được hoàn toàn với quy luật mạnh được yếu thua, dù là trên một đẳng cấp cao hơn, tính cách phức tạp vạn lần hơn.
    Vẫn cứ thế: quan hệ mạnh yếu. Kẻ mạnh làm ra luật, tự tin, ngẩng cao đầu, nhiều thành đạt, được tôn sùng…
    Kẻ yếu phải tìm cách sinh tồn, lâu dần thành bản năng, cá tính…
    Biết làm sao được?

    *Mạnh vì nanh vuốt cơ bắp; mạnh bởi dân số và tài nguyên thiên nhiên, địa lý thuận lợi; mạnh do bản năng đấu tranh chủng loài, và mạnh nhờ trí tuệ, ý chí bẩm sinh hoặc tập thành ngàn đời.

    Đó là những hằng số giống nòi và định mệnh lịch sử.

    *Ngẫu nhiên những quốc gia được xếp loại dựa trên nòi giống, định mệnh nhân chủng và địa lý, hình thành lịch sử đấu tranh sinh tồn như nêu trên.

    Định mệnh đã cho Thuỵ sĩ được trung lập, sau khi rơi vào tay Pháp của Napoleon I, rồi sau trận Waterloo các cường quốc thắng trận đã đồng ý cho Thuỵ sĩ được trung lập từ 1815. Chứ TS cũng chẳng tài ba gì mà tạo được thân phận trung lập!

    Định mệnh Hitler tàn sát dân Do Thái, gây ra Đệ nhị Thế chiến, và kết thúc bằng sự ra đời của Liên Hiệp Quốc là cơ quan tuyên bố chứng nhận sự tồn tại quốc gia Israel tại Palestine; nhốt chung 2 chủng loại Ả rập và Do Thái trên cùng một lãnh thổ để xảy ra đổ máu và hận thù mãi đến nay.

    Định mệnh cũng khiến VN ở ngay sát biên giới phía nam TQ, bị nó đô hộ nghìn năm nhưng đã chiến đấu thoát ra và tồn tại.

    *Cũng vài trăm nghìn km2, cũng vài chục triệu dân đến vài trăm triệu dân, cũng trải qua thời kỳ đô hộ bởi thực dân phương Tây,
    nhiều nước ĐN Á như Philippines, Malaysia, Thailand; thậm chí cả Indonesia gần 2 triệu km2 với 270 triệu dân…thì có gì hiển hách, thanh cao, đáng tôn kính hơn VN không?

    *mổ xẻ bản chất giống nòi Việt để bổ sung, sửa đổi nó ư?
    Đã có bao nhiêu bậc đại trí trong lịch sử từng nhận xét, mong muốn thế, và đã làm được gì?

    *Hay thực ra là phẫu thuật, banh xác nó ra, để phá vỡ lòng tự tin, tự hào, văn hiến…vốn dĩ đã là một phần của sức trường tồn của dân tộc nầy hàng nghìn năm nay?

    Để nó sụp đổ, quỳ gối đầu hàng, và xin sáp nhập?

    • “Định mệnh cũng khiến VN ở ngay sát biên giới phía nam TQ, bị nó đô hộ nghìn năm nhưng đã chiến đấu thoát ra và tồn tại”

      May quá đã có chủ nghĩa Mác-Lê & tư tưởng Hồ Chí Minh, có cả Đảng Cộng Sản, rùi quân đội Cộng Sản . Có 3 cái chời đánh này thì những gì fong kiến hổng làm được, chủ nghĩa Mác-Lê & tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ thành công .

      Chung wa zô nơi này vưỡn thía thui .

      Phạm Minh Chính mún fong chào chống dịch chiển sang thế tấn công thay vì phòng ngự như bi giờ . Mún làm được chiện đó phải có nguồn vaccines vô tận . Thử đoán coi nguồn đó từ đâu ra.

      • Nhập gia tuỳ tục, wumao hãy cố nói tiếng Việt cho nghiêm chỉnh đi. Nói tiếng tàu pinh âm chả chớt nghe bẩn thỉu lắm. Răng còn đủ không mà nói giọng khó nghe vậy?

  5. “Về chính trị địa lý thì giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay, than ôi, vẫn mang điều hoang tưởng về khả thể cường quốc – một “tiểu Trung Hoa” theo mô hình xã hội chủ nghĩa mơ hồ, ‘vì lý tưởng XHCN’ bền hơn ở quê hương của nó”

    Well, ít nhứt họ nhìn thấy Trung Hoa như 1 cơ hội, 1 nguồn cảm hứng & 1 kho kiến thức . Lets face it, tất cả những gì Đảng Cộng Sản của đồng chí triết gia còi hụ đã, đang & sẽ phải đối phó, Trung Quốc đều có cách giải quyết rất lô dít .

    “Nhưng chỉ cần một thế hệ, hầu hết con cháu ta đã từ bỏ, hoặc không màng gì đến những bản sắc văn hóa Việt”

    Hổng thỉa trách được . Bản sắc văn hóa Việt, nhờ công lao của giới trí thức cả trong lẫn ngoài nước, somehow bị tied vô chế độ hiện thời . “Cứu Đảng là cứu nước”. Con nít sống bên đây nghe những thứ đó liền nôn thốc nôn tháo . Ngay cả con nít nhà tớ, mún tìm zìa bản ngã châu Á sẽ tìm thấy ở Hàn & Nhựt, chứ chắc chắn hổng thấy ở những thứ dính dáng tới Việt Nam .

    “Dân Việt nói chung rất thiếu tự tin về nguồn gốc dân tộc mình”

    Trí thức mọi rợ đừng có lợi dụng “nguồn gốc dân tộc” zô mục đích “hòa giải hòa hợp” với Đảng từ hổi tới giờ thì chắc tình hình cũng hổng đến nỗi tệ .

    “Sự loay hoay giữ hoang tưởng vĩ cuồng cho quốc gia trung thành với ý thức hệ Marx-Lenin đã bị châu Âu đào thải đang gây mâu thuẫn trầm trọng với khả năng kinh tế và chính trị của thể chế cũng như của giới doanh nhân Việt”

    WTF man! Mới hồi nào đồng chí triết gia còi hụ mê mệt chủ nghĩa Mác, nghe nói giảng dạy môn này ở 1 community college nào đó ở CA, bi giờ lại thía lày gòi . Chắc tại mấy năm nay Đảng Cộng Sản của đồng chí rút phép thông công nên sinh ra phản động ? Chỉ xin bố, khi Đảng (lại) cho phép zìa Việt Nam du hý, đừng có bắt chước Nguyễn Ngọc Giao đem hài cốt chiên da tra tấn Boudarel zìa rải đầy đất Việt . Đổi mới đám trí thức Cộng Sản nhà bác, cứ làm như đất nước của riêng chúng bay . Bạ cái con Tự Do gì cũng nhét vô, rùi phàn nàn dân khí/trí bại hoại . Thía là tự phong cho mềnh nhiệm vụ “khai dân trí”, thứ mà tụi bay phá nát từ trước tới giờ . Chừng nào dân hiểu ra mà đái vô chúng nó thì may ra, tụi nó mới khai (mùi) dân trí .

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Tên