45 năm thuyền nhân, vào cõi chết tìm đất sống

12
Ngày 30 tháng 4 năm 2020 đánh dấu 45 năm Miền Nam Việt Nam thất thủ. Khởi đi từ đó dù cuộc chiến bom đạn đã chấm dứt trên quê hương nhưng lại mở ra một trận chiến âm thầm khốc liệt và đau thương khác cho dân tộc. Đó là cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, giữa tự do và độc tài, giữa nhân đạo và bất nhân mà bằng chứng cụ thể là hàng triệu người dân ruồng bỏ chế độ độc tài đảng trị tàn bạo cộng sản ra đi bằng đường bộ và đường biển khiến cho cả triệu người phải vùi thây dưới lòng đại dương hay chôn thân trong rừng sâu núi thẳm.
Từ bối cảnh đó hai chữ “thuyền nhân” ra đời trong sự thức tỉnh của lương tâm nhân loại trước định mệnh nghiệt ngã của dân tộc Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20. Trong ý nghĩa này, thuyền nhân là những người dám xông vào cõi chết để tìm đất sống.
Tại sao phải bỏ nước ra đi?
Tại sao một dân tộc có lịch sử mấy nghìn năm kiên trì bất bại bám giữ từng tấc đất của ông bà tổ tiên để lại như người Việt Nam lại phải chọn lựa cho mình con đường bỏ nước ra đi đầy hung hiểm, gian nguy và thử thách mà cái giá phải trả đã cầm chắc trong tay là vào cõi chết?
Nhà thơ Trần Dạ Từ trong bài thơ “Ném Con Cho Giông Tố” được viết trong trại tù Gia Trung của CS năm 1979 và được in trong tập Thơ Trần Dạ Từ được Việt Báo xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2018, đã nói lên tâm trạng của người cha mẹ phải “nghiến rang” để cho con mình đi vượt biển, làm thuyền nhân, chẳng khác nào gửi con cho giông tố mà qua đó chúng ta hiểu được phần nào lý do tại sao:
 
“Em có lũ con thơ
bị quê hương ruồng bỏ
Từ bóng tối hận thù
Em nghiến răng
ném con cho giông tố…”
 
Nhà thơ Trần Dạ Từ đã nêu ra một hình ảnh “bóng tối,” một hiện tượng “hận thù,” và một bi kịch “bị quê hương ruồng bỏ” để cho thấy lý do tại sao người dân phải bỏ nước ra đi. “Bóng tối” là hình ảnh một đất nước chìm trong đen tối của nghèo đói lạc hậu và bất công. “Hận thù” là hiện tượng diễn trong đất nước mà chế độ xem dân là kẻ thù để bóc lột, đàn áp, trừng trị không nương tay. “Bị quê hương ruồng bỏ” là bị kịch của dân tộc mà trong đó người dân thấy mình bị ruồng bỏ trên chính quê hương của mình. Sống trong “bóng tối hận thù” như thế thì không người dân nào có thể còn muốn sống vì vậy họ phải ra đi để tìm đất sống cho dù phải đi vào cõi chết.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi cộng sản Bắc Việt thống trị cả nước Việt Nam họ bắt đầu thực hiện nhiều chiến lược tàn bạo đối với người dân, nhất là người dân Miền Nam.
Trong cuốn sách “A Gift of Barbed Wire” của Robert S. McKelvey được xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2002, cho biết cộng sản VN sau năm 1975 đã đẩy hơn 1 triệu trí thức, văn nghệ sĩ và quân dân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa vào các nhà tù mà họ gọi là “trại học tập cải tạo.” Có người bị cầm tù tới hơn 20 năm, và nhiều ngàn người đã chết vì bệnh tật, thiếu ăn suy dinh dưỡng, trốn trại bị bắn, v.v… Trong tác phẩm nói trên McKelvey đã viết về sự gian dối và phản bội của Hà Nội đối với các quân cán chính VNCH như sau:
 
“Có thông báo [trên đài phát thanh và những cái loa chát chúa] rằng tất cả quân nhân của chế độ cũ đểu phải đi học tập cải tạo. Bạn đựợc cho biết đến văn phòng chính quyền hay trường học và viết lý lịch của bạn, một loại sơ yếu lý lịch. Rồi bạn về nhà và chờ. Sau một tháng có thông báo khác bảo bạn trình diện đi học tập cải tạo. Các sĩ quan, hạ sĩ quan, và những cấp bậc thấp hơn thì được cho biết việc học tập cải tạo của họ sẽ kéo dài 3 ngày và họ có thể về nhà mỗi đêm. Các sĩ quan cấp bậc cao hơn, cấp tá tới tướng, và viên chức chính quyền cao hơn được cho biết việc học tập cải tạo của họ kéo dài lâu hơn và họ phải trình diện tại trường trung học hay đại học gần đó với đầy đủ lương thực và quần áo cho 30 ngày.”
 
“Nhưng rồi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đã phải ngồi tù lao động khổ sai tới cả chục năm, có người ở tù tới 21 năm, như trường hợp nhà tình báo Sang đã bị bắt ở tù học tập cải tạo từ tháng 3 năm 1975 cho đến năm 1996 mới được thả.”
Đẩy quân dân cán chính của chế độ VNCH vào các nhà tù rồi, chế độ cộng sản VN xoay qua tính sổ với giới trí thức văn nghệ sĩ và tiêu diệt văn hóa văn học Miền Nam.
Nhà văn Nhã Ca, trong “Nhã Ca Hồi Ký: Một Người Mất Ngày Tháng,” xuất bản năm 1991 và tái bản năm 2019, kể về Chiến Dịch Truy Quét “Văn Nghệ Sĩ Phản Động” của cộng sản Hà Nội bắt đầu vào ngày 3 tháng 4 năm 1976:
“Ngay những giờ đầu chiến dịch, theo “phương án tác chiến” được lập sẵn, công an Cộng sản cùng một lúc xuất phát. Tại Trung Tâm Sài Gòn, căn phố nhỏ của gia đình nhà văn nhà báo nhà giáo Chu Tử Chu Văn Bình, là “điểm.”
 
“Chu Tử, ngay từ chiều 30 tháng Tư 1975, đã tử nạn trên tầu di tản giữa sông Sài Gòn vì trúng đạn Cộng sản. Trưởng nữ của ông, chị Chu Vị Thủy cùng chồng là họa sĩ Đằng Giao, còn ở lại. Hai vợ chồng nhà họa sĩ, đúng lúc này, lại vừa có thêm cháu trai thứ ba, mới sinh được bảy ngày. Một ông bạn chủ tiệm may, thỉnh thoảng làm thơ tài tử ký tên Ninh Chữ, ghé thăm. Cả khách lẫn chú bé sơ sinh đều bị bắt gọn. Trận đầu ra quân: Vượt chỉ tiêu, thắng lớn.
 
“Một căn phố nhỏ khác trên đường Trần Quý Cáp, địa chỉ của nhà văn Mai Thảo, là “điểm” thứ hai. Nhà văn vốn độc thân vui bạn, thâu đêm không về. Vẫn đạt chỉ tiêu: Công an canh nhà, bắt khách đến thăm. Người thế chỗ nhà văn, dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu, một mực bị gọi là Mai Thảo.
 
“Tại cư xá Chi Lăng, Phú Nhuận: Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Tại góc Ngô Tùng Châu-Hoàng Hoa Thám, Gia Định: Nhã Ca và Trần Dạ Từ.
 
“Chiến dịch bắt giam toàn bộ các nhà văn, nhà báo tự do ở miền Nam Việt Nam, đúng như các lãnh tụ Cộng sản tính toán, quả là ngon ơ. Cứ vậy mà liên tiếp đại thắng…”
Đánh cái đầu, tức mặt trận văn hóa tư tưởng sẽ không thành công nếu không đánh cái bụng, tức mặt trận kinh tế tài chánh. Vì vậy, chế độ CSVN thực hiện nhiều vụ đổi tiền để vô sản hóa toàn dân. Cùng lúc chế độ cũng thực hiện chiến dịch hợp tác xã để quốc hữu hóa đất đai ruộng vườn của toàn dân khiến cho người dân trở thành kẻ nô lệ sống trên chính mảnh đất và vườn tược của ông cha để lại. Chưa xong, để biến người dân thành kẻ tha phương cầu thực thực sự, chế độ đã thực hiện chương trình kinh tế mới để cướp đoạt tài sản và đẩy hàng trăm ngàn gia đình đến các vùng mà họ gọi là kinh tế mới nhưng thực chất là những nơi hoang dã rừng rú chưa ai khai thác. Chưa nói đến đói khát làm chết dần chết mòn, nạn rừng sâu nước độc và bệnh tật thời khí cũng đã đủ để giết người vô tội.
Còn trong nhà trường, những học sinh là con cháu của thành phần trí thức văn nghệ sĩ và dân quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa mà chế độ CSVN gọi một cách kỳ thị là thành phần “ngụy quân, ngụy quyền” thì bị phân biệt đối xứ để không cho vào các đại học. Sau khi những con em này ra trường đi kiếm việc làm thì không cho nắm giữ các chức vụ quan trọng trong mọi ngành nghề và không cho tăng lương tiến chức.
Về mặt tâm linh tôn giáo, chế độ CSVN xem “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân,” nên ngay từ những ngày đầu chiếm Miền Nam họ đã tìm mọi cách để kiểm soát sinh hoạt các tôn giáo. Kiểm soát không được thì chế độ tìm cách xâm nhập để lũng đoạn, phân hóa. Không lũng đoạn được thì chế độ đặt tổ chức tôn giáo đó ra ngoài vòng luật pháp để thẳng tay triệt hạ mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một minh chứng. Các tôn giáo khác như Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành và Công Giáo đều chịu chung số phận.
Sống trong một đất nước như thế, mà thực sự không khác một nhà tù lớn, không một người dân nào có thể sống nổi và ai cũng muốn bỏ nước ra đi tìm đất sống tự do khi có một chút phương tiện và cơ hội. Cho nên thời bấy giờ mới có câu “Cái cột đèn nếu biết đi cũng bỏ nước ra đi..”

Nhưng chuyện vượt biên, vượt biển là một chặng đường cam go, nguy hiểm ngay từ lúc có ý định cho đến khi xuống ghe ra khơi.

45 Nam Thuyen Nhan 02

Thuyền nhân Việt Nam.(nguồn: www.pixabay.com )
Hiểm nguy chập chùng
Khi có ý định đi vượt biên, người dân phải rất cẩn thận trong quá trình chuẩn bị mọi thứ nếu không giữ bí mật chỉ cần hở môi một chút là có thể bị vào tù bất cứ lúc nào, vì mạng lưới công an chìm nổi vây bủa khắp nơi, từ công an khu vực đến người điềm chỉ nằm vùng trong làng xóm.
Nhiều người xem chuyện vượt biên là cơ hội để kiếm tiền nên đứng ra tổ chức vượt biên để nhận vàng của những người muốn đi vượt biên đóng góp trong gian đoạn đầu. Thậm chí những công an và cán bộ CS cũng không bỏ lỡ cơ hội để làm tiền những người vượt biên bằng cách đứng ra tổ chức hay làm tiền những người tổ chức vượt biên. Vào những năm 1978, 1979 chính quyền CSVN đã tổ chức những đợt vượt biển bán chính thức cho những người Việt gốc Hoa ở VN đi vượt biển và mỗi người đi đều phải đóng vàng.
Chưa hết, những người tự đứng ra tổ chức vượt biên thì phải tự túc mọi thứ từ ghe, xăng dầu, la bàn, và ngay cả vũ khí để tự vệ. Trong quá trình chuẩn bị này rất dễ bị phát giác, bị bắt và vào tù.
Đa phần những người vượt biên đều ít nhất bị thất bại hay bị ngồi tù một lần trước khi có thể đi được trót lọt. Nhiều người bị thất bại năm bảy lần mà cuối cùng thì vẫn không đi được.
Đến ngày ra bãi để lên ghe đi vượt biên không mấy ai biết chắc là mình có thể đi được và tâm trạng nôn nao, hồi hộp, lo sợ, khủng hoảng kéo dài cho đến khi chiếc thuyền vượt biên chạy ra khỏi hải phận VN. Dĩ nhiên, sau đó còn vô số những mối lo và hiểm nguy khác đợi chờ nơi đại dương mênh mông.
Nhà văn Trần Kiêm Đoàn là một thuyền nhân đã kể lại tâm trạng nói trên trong bài viết “Chút Tâm Sự Thuyền Nhân Vượt Biển” của ông đăng trên trang mạng www.vietbao.com như sau.
 
“Tiếng máy nổ từ xa vọng lại làm cho những người suốt đêm chờ đợi giờ xuất phát vội vã kéo nhau, đẩy nhau trong im lặng để chạy nhào ra phía biển trong đêm tối.  Chỉ cần một tiếng khóc trẻ thơ vang lên trong giờ phút nầy là hỏng chuyện. Thế giới dày đặc bóng tối xung quanh vừa che chở, vừa đe dọa, nhưng chắc chắn là không khoan thứ cho bất cứ loại âm thanh nào gây tiếng động trong khoảnh khắc quyết định nầy. Thế mà vẫn nghe tiếng chân chạy lạo xạo trên bãi cát qua đồi thông, tiếng thở hổn hển và tiếng thì thào hỏi nhau có đủ thằng Cu, con Bé… hay không. Chạy qua hết đồi thông, bãi cát trống trước mặt và ánh lân tinh của biển để lộ bóng đen của đoàn người vừa đi, vừa bò, vừa chạy… trong dáng vẻ khẩn cấp. Chiếc ghe được kéo chuồi xuống nước bằng tất cả năng lực bình sinh của những người nhập cuộc. Sóng biển nhồi chiếc ghe lúc nâng lên quá tầm tay với, lúc hạ xuống chạm mặt cát. Mọi sức lực thể chất và tinh thần cuồn cuộn xoáy vào níu kéo đoàn người nhào lên ghe bất cứ bằng tư thế nào: Nhảy lên, ném vào, trườn tới, dúi xuống, đẩy lên từ phía đầu, phía chân, phía bụng… miễn sao tất cả đều phải lên ghe nhanh như chớp mắt. Máy rộ lên từng hồi và chiếc ghe mỏng manh cũng rung lên chuyển mình hướng mũi ra khơi. Cảm giác “vượt biên” táo bạo, liều lĩnh, mới mẻ và đầy sợ hãi đến mức làm cho mọi người lạc cả giọng nói, nén cả hơi thở, tán lọan cảm nhận trong những phút bản năng sinh tồn ngự lên làm chủ. Khi ghe đã vượt ra ngoài tầm súng và nhìn lại phía sau không có dấu hiệu nào có người đuổi theo, Thụ và Minh mới cho ghe chậm lại, ghé tạt đến mấy ghe người làng đang bủa cá ngoài khơi để xin thêm thức ăn và dầu. Vài thanh niên trong làng đang đánh cá dợm nhảy qua ghe chúng tôi xin đi theo, nhưng chiếc ghe mành đã quá tải không còn chỗ.”
Trước mắt thuyền nhân đang lênh đênh trên biển cả là một chân trời hoang mang vô định mà nơi đó hải tặc là một hiểm họa chết người.
Hải tặc Thái Lan tàn ác
Các thuyền nhân VN không những chỉ đối diện với bão tố, bệnh tật và đói khát mà còn với hải tặc.
Tài liệu của Bách Khoa Từ Điển Mở thuật lại lời kể của thuyền nhân VN Lê Phước nói rằng ông đã rời VN với 17 người khác trên một chiếc thuyền dài 7 mét cố gắng vượt qua Vịnh Thái Lan dài 480 kilômét để tới miền nam Thái Lan hay tới Mã Lai. Không may, chiếc thuyền 2 máy của ông đã bị hỏng máy và chiếc thuyền đã trôi dạt mà không có điện và lương thực và nước uống cũng hết sạch. Hải tặc Thái Lan đã lên thuyền của họ 3 lần trong cuộc hành trình dài 17 ngày, đã hãm hiếp 4 phụ nữ trên thuyền và giết chết một người, cướp đi tất cả vật sở hữu của thuyền nhân, và bắt cóc một nam thuyền nhân không bao giờ được tìm thấy. Khi chiếc thuyền của họ chìm, họ được một tàu đánh cá Thái Lan cứu và đưa vào trại tị nạn trên bờ biển của Thái Lan.
Một câu chuyện khác trong nhiều câu chuyện được kể nói rằng một chiếc thuyền chở 75 thuyền nhân đã bị nhận chìm bởi các hải tặc với duy nhất một người còn sống sót.
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã bắt đầu biên tập các thống kê về nạn hải tặc vào năm 1981. Trong năm đó, 452 chiếc thuyền chở thuyền nhân đến Thái Lan mang theo 15,479 người tị nạn. 349 trong số những chiếc thuyền đó đã bị hải tặc tấn công trung bình 3 lần mỗi chiếc. 228 phụ nữ thuyền nhân đã bị bắt cóc và 881 người đã chết hay mất tích. Một cuộc vận động chống hải tặc quốc tế đã bắt đầu vào tháng 6 năm 1982 và đã giảm số vụ hải tặc tấn công dù họ vẫn tiếp tục đều đặng và thường giết người cho đến năm 1990.
Thuyền nhân đầu tiên
Người Việt tịn nạn CS đã bỏ nước ra đi năm 1975, nhưng đó là những người ra đi trong đợt di tản bằng máy bay và tàu Hải Quân của Hoa Kỳ trước và trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Số liệu trên Bách Khoa Từ Điển Mở cho thấy có tới khoảng 138,000 người đã ra đi trong đợt này và đã được cho định cư tại Mỹ.
Cái tên “thuyền nhân” được gọi cho những người Việt ra đi bằng những chiếc thuyền nhỏ mà có khi là chiếc thuyền chỉ có khả năng chở mười mấy người, đối diện với muôn vàn hiểm nguy của bão táp phong ba và hải tặc, lần đầu tiên được nhìn thấy đã cập vào bở biển Mã Lai Á vào tháng 5 năm 1975 chở theo 47 người từ bỏ VN ra đi, theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cho biết.
Trong bài viết của tác giả Bram Steenhuisen đăng trên trang mạng của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ngày 30 tháng 8 năm 2005, nói về người tị nạn cuối cùng rời khỏi trại tị nạn tại Mã Lai là ông Doan Van Viet, kể rằng vào tháng 5 năm 1975, các bờ biển Mã Lai đã chứng kiến chiếc thuyền vượt sóng gió chở theo 47 người từ Việt Nam lần đầu tiên đến Mã Lai. Họ là những người đầu tiên trong hàng trăm ngàn người tị nạn đi bằng đường biển chạy trốn khỏi chế độ cộng sản tại VN, Cam Bốt và Lào, mà sau này được gọi là “thuyền nhân” [boat people].
Ông Doan đến Mã Lai vào năm 1984 khi chiếc thuyền của ông tấp vào Đảo Pulau Bidong nằm ngoài khơi tỉnh Terengganu của Mã Lai. Lúc đó ông mới có 22 tuổi đã bỏ nhà đi vượt biển từ Châu Thành tại Đồng Nai với người anh trải qua nhiều ngày trên biển.
Khi trại tị nạn trên Đảo Pulau Bidong đóng cửa vào năm 1990, ông được dời tới trại Sungai Besi. Trại này cũng đã đóng cửa vào năm 1996, và ông đã phải trà trộn vào cuộc sống của người dân Mã Lai địa phương bên ngoài trại.
Sau 22 năm bỏ nước ra đi, cuối cùng ông Doan đã trở lại quê nhà với vị hôn thê.
Bài viết này cũng cho biết kể từ năm 1975, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã giúp định cư cho khoảng 240,000 người tị nạn Việt Nam từ Mã Lai đến đệ tam quốc gia, và có khoảng 9,000 người đã trở về lại VN.
Những con số đau lòng
Theo Bách Khoa Từ Điển Mở, số thuyền nhân rời Việt Nam và đến an toàn ở một nước khác là khoảng 800,000 người tính từ năm 1975 tới 1995. Nhiều thuyền nhân không may đã bỏ mạng trên biển cả, có nhiều người đối diện với hiểm nguy từ hải tặc, chìm thuyền vì quá đông người, và gặp bão tố giữa biển khơi. Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc phỏng đoán số thuyền nhân chết vào khoảng 400,000. Các thống kê khác cho biết số thuyền nhân chết trên biển chiếm tỉ lệ từ 10 đến 70% tất cả thuyền nhân vượt biển.
Nơi đặt chân đến đầu tiên của những thuyền nhân VN là các quốc gia Đông Nam Á gồm Hồng Kông, Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Thái Lan.
Những nước thứ ba đã chấp nhận thuyền nhân VN gồm Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Ý, Úc, Pháp, Tây Đức, Anh Quốc, Thụy Điển, Hòa Lan, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Sĩ, v.v…
Vài năm đầu, các nước Đông Nam Á đã không chấp nhận đón tiếp các thuyền nhân VN vì sợ làn sóng người vượt biển biến thành cuộc khủng hoảng kinh tế và an ninh. Sau cuộc họp quốc tế do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ, và tháng 7 năm 1979, có sự tham dự của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Walter Mondale, đã đưa ra những cam kết tài trợ cho các nước Đông Nam Á là nơi đầu tiên các thuyền nhân VN cập bến, cũng như lời hứa cho định cư tại đệ tam quốc gia, và chính quyền CSVN đồng ý mở chương trình ra đi trong trật tự được gọi là ODP, thì các nước Đông Nam Á đã mở cửa đón nhận thuyền nhân.
Kết quả của cuộc họp quốc tế nói trên đã làm giảm vài ngàn thuyền nhân mỗi tháng rời khỏi VN và số người được đi định cư ở nước thứ ba tăng từ 9,000 mỗi tháng vào đầu năm 1979 tới 25,000 mỗi tháng, đại đa số thuyền nhân được định cư tại Hoa Kỳ, Pháp, Úc và Gia Nã Đại.
Các thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc từ năm 1975 tới 1997 cho thấy rằng 839,228 người VN đã đến các trại tị nạn của UNHCR tại Đông Nam Á và Hồng Kông. Hầu hết trong số đó đều là thuyền thân. 42,918 người vượt biên bằng đường bộ sang Thái Lan. 749,929 người đã được định cư tại hải ngoại. 109,322 người đã hồi hưong về VN, theo diện tự nguyện hay bắt buộc.
Tưởng niệm
Để tưởng niệm hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam đã nằm xuống trong lòng biển cả mênh mông trên hành trình tìm đất sống còn dang dở, xin chép lại mấy  đoạn trong bài thơ “Điếu Thi” đăng trong tập thơ “Thủy Mộ Quan” của nhà thơ Viên Linh nhân “Tháng Tư máu chảy một trời sương tan.”
Trên Huyết Hải thuyền trôi về một chiếc
Chiều bầm đen trời rực rỡ đau thương
Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt
Sóng bạc đầu hối hả phủ trùng dương
 
Thấp thoáng trần gian
Mịt mù bóng đảo
Trôi về tây về bắc về đông
Trôi về đâu bốn bề thủy thảo
Về đâu kiếp đắm với thân trầm.
 
Hồn ơi dương thế xa dần
Hồn đi thôi nhé thủy âm là nhà
Hồn về trong cõi hà sa
Sống không trọn kiếp chết là hồi sinh.
Xong rồi một cỗi u minh
Ngựa Hồ chim Việt biến hình mà đi.
 
Hồn vẫn ở la đà Đông Hải
Hồn còn trôi mê mải ngoài khơi
Hồn còn tầm tã mưa rơi
Tháng Tư máu chảy một trời sương tan.
Huỳnh Kim Quang (Việt Báo)

12 BÌNH LUẬN

  1. Kính gởi đồng chí hậu duệ Lao ái Nguy Tàn Dư Phét Lác (thấy đồng chí gọi NGỤY SAI GON 3///, thành ra em cũng phải gọi chính danh cho đồng chí, cho nó gọi là có qua có lại… tình đời).

    Hôm nay em muốn viết vài hàng về cái đảng và nhà nước thổ tả, chuyên “ị” ra rồi liếm lại liền. Thấy đồng chí thông minh lại hay dẫn chứng bằng tiếng anh, em cũng bắt chước theo. Dưới đây là trích đoạn của 3 công hàm của nhà nuớc ta gởi cho liên hiệp quốc về vấn đề biển đông, nguyên văn công hàm đồng chí có thể “gúuc” trên internet hoặc trong kho lưu trữ Liên Hợp quốc.
    1 – Công hàm 2014
    Letter dated 3 July 2014 from the Permanent Representative of Viet Nam to the United Nations addressed to the Secretary-General
    (Signed) Le Hoai Trung
    Ambassador Extraordinary and Plenipotentiary
    Permanent Representative of Viet Nam to the United Nations

    …The GOVERNMENT OF THE REPUBLIC OF VIETNAM requested that the United Nations Security Council hold an urgent meeting on China’s use of force…

    …China illegally invaded the Hoang Sa Archipelago twice. Taking advantage of France’s withdrawal from Viet Nam, in 1956 China invaded and occupied the eastern part of the Hoang Sa Archipelago.This was the first-ever standing occupation of China anywhere in the Hoang Sa Archipelago, which elicited strong protests from the Republic of Viet Nam. In 1959, an attempt by Chinese soldiers disguised as fishermen to land on the western part of the Archipelago was smashed by the forces of the Republic of Viet Nam. Eighty-two Chinese “fishermen” were captured. Both invasions occurred after the sovereignty of Viet Nam over the Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes had been reaffirmed, without any protest, at the above-mentioned international conferences…
    Tạm dịch:

    Thư ngỏ ngày 3 tháng 7 năm 2014 từ
    Đại diện thường trực của Việt Nam gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc
    Lê Hoài Trung (đã ký)
    Đại sứ đặc mệnh toàn quyền
    Đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên Hợp Quốc

    …CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tổ chức một cuộc họp khẩn cấp về việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc…

    …Trung Quốc xâm chiếm bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa hai lần. Lợi dụng Pháp rút khỏi Việt Nam, năm 1956 Trung Quốc xâm chiếm và chiếm ngự phần phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đây là sự chiếm đóng đầu tiên của Trung Quốc ở một nơi trong Quần đảo Hoàng Sa, đưa đến những CUỘC BIỂU TÌNH PHẢN KHÁNG MẠNH MẼ từ VIỆT NAM CỘNG HÒA. Năm 1959, trong một toan tính của binh lính Trung Quốc cải trang thành những ngư dân đổ bộ vào phía tây của Quần đảo đã bị lực lượng của Việt Nam Cộng hòa đập tan. Tám mươi hai “lính giả ngư dân” người Trung Quốc đã bị bắt. Cả hai cuộc xâm lược xảy ra sau khi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được tái khẳng định, mà không có bất kỳ sự phản đối nào, tại các hội nghị quốc tế nói trên…

    2- Công hàm 2016
    PERMANENT MISSION
    OF THE SOCIALIST OF VIETNAM
    TO THE UNITED NATIONS
    …In 1975, after China’s resort to the use of force to occupy Hoang Sa Archipelago (in January 1974), the GOVERNMENT OF THE REPUBLIC OF VIETNAM issued a White Paper which presented historical evidences from State official documents to clearly and persuasively affirm Viet Nam’s long-standing sovereignty over the two Archipelagos…
    tạm dịch:
    PHÁI ĐOÀN THƯỜNG TRỰC
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    TẠI LIÊN HỢP QUỐC
    …Năm 1975, sau khi Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm quần đảo Hoàng Sa (vào tháng 1 năm 1974), CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA đã ban hành BẠCH THƯ trình bày bằng chứng lịch sử từ các tài liệu chính thức của Nhà nước để khẳng định rõ ràng và thuyết phục về việc Việt Nam – nắm giữ chủ quyền lâu dài đối với hai quần đảo…

    3- Công hàm 2017
    Letter dated 26 December 2017 from the Permanent Representative
    of Viet Nam to the United Nations addressed to the Secretary -General
    (Signed) Nguyen Phuong Nga
    Ambassador Extraordinary and Plenipotentiary
    Permanent Representative of Viet Nam to the United Nations
    …. It was under the AUTHORITY OF THE REPUBLIC OF VIETNAM to conduct activities to affirm and protect Viet Nam’s sovereignty over the Hoang Sa and Truong Sa archipelagos…
    tạm dịch:
    Thư ngỏ ngày 26 tháng 12 năm 2017 từ Đại diện thường trực
    của Việt Nam tại Liên Hợp Quốc gửi tổng thư ký LHQ
    Nguyen Phuong Nga (đã ký)
    Đại sứ đặc mệnh toàn quyền
    Đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên Hợp Quốc

    …CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA đã tiến hành các hoạt động nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…
    ****************************
    Đồng chí hậu duệ Lao ái Nguy Tàn Dư Phét Lác có nhận thấy điểm gì khác thường trong 3 công hàm chính phủ VNCS gởi cho LHQ (Liên Hợp Quốc) không?

    Tại sao csvn không gọi là ngụy VNCH hay bù nhìn VNCH mà lại trịnh trọng trong công hàm gọi là CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA (The GOVERNMENT OF THE REPUBLIC OF VIETNAM). Trong nước thì csvn ị bừa bãi bằng những danh xưng hỗn láo xấc xược để dạy dỗ dân đen, nhưng ra đến quốc tế thì lại nịnh bợ bằng những ngôn từ trịnh trọng, có phải bọn csvn “ị” bửa bãi ra rồi liếm lại liền không?

    Quốc gia VNCH được 87 nước trên thế giới công nhận cũng như tham gia hầu hết tổ chức quốc tế ( ILO, ITU, UPU, WHO, WMO,UNESCO, và IAEA), cùng tham gia những tổ chức tài chánh như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) với nhiều cổ phần, trong khi việt cộng trơ củ lẳng, trên răng dưới dế, chả được bao nước công nhận, chả có chân trong một tổ chức nào mà chỉ ăn thừa của VNCH, mà ăn nói thiếu giáo dục mất dậy, vì quá mất dậy nên văn bút quốc tế (PEN) cho tới nay vẫn không cho gia nhập vì sợ ảnh hưởng xấu tới ngôn ngữ của nhân loại ( hình như tổ chức này vẫn để văn bút VN hải ngoại làm đại diện).

    csvn chỉ dám dạy lũ dân đen mất dạy ở cái ao làng VN chứ ra đến quốc tế mà mất dạy thì người ta tát cho vỡ mõm, trước tiên là bố tàu, nó sẽ tống đầy “kít” vào mồm vẹm ngay, để cho câm họng, nó sẽ đặt vấn đề;
    “nếu đó là ngụy quyền thì có giá trị gì mà mày lôi ra dẫn chứng?” thì bọn cán ngố đái ra quần ngay.

    Đồng chí có thấy VNCH có “oách” không? tàu nó xâm phạm biển đảo của mình là biểu tình phản đối rầm rộ, bọn tàu xâm nhập là bắt nhốt tù luôn, không “on đơ” gì ráo trọi, không ấm ớ đồng chí nước lạ, hay quan ngại vớ vẩn gì cả.

    CSVN là con của tàu dùng ở đây, là theo khai sinh chính thống của đảng và nhà nước tàu, hoàn cầu thời báo gọi csvn là thằng con mất dạy (浪子回头) mà báo chí quốc tế dịch là Prodigal Son, em chả có ý kiến gì về vấn đề này mà chỉ gọi theo tập tục quốc tế, ai có ý kiến gì xin cho biết, em xin cám ơn.

    Thưa đồng chí hậu duệ Lao ái Nguy Tàn Dư Phét Lác, comment đã hơi dài em sẽ viết tiếp vào các comment khác, kính chào ‘đoàn kết và quyết thắng”

  2. Ý chí của con đại bàng và ý chí của con se sẻ nó khác nhau như thế nào?
    Mấy dòng này em muốn gởi đến đồng chí Nguy Tàn Dư Phét Lác một suy nghĩ sáng sủa trong đầu óc nhỏ bé của đồng chí.
    Để khỏi mất thì giờ, em xin vào đề ngay.
    cả thế giới cứ mỗi lần nghe bắc hàn thử vũ khí “hột nhưn” là co rúm người lại, sợ nó làm thật thì khối anh được về thiên quốc. Liên hiệp quốc, đế quốc Mỹ cấm vận, nó cóc sợ, anh nào dọa nó, nó chả ngại gì đưa đồ chơi của nó ra, thế là các anh to đầu cũng phải rụt vòi lại, thế đứng của nó trên trường quốc tế thật hiên ngang, vì nó có đồ chơi thứ thiệt.

    Phải nói đúng ra là người lãnh đạo triều tiên biết nhìn xa trông rộng để có thế đứng như ngày hôm nay, tuy rằng bắc triều đã để dân họ phải chịu cuộc sống lầm than để trả giá, nhưng nói đi cũng phải nói lại, người dân vn- miền bắc chịu đựng lầm than hơn 40 năm, miền nam hơn 20 năm cho đến khoang năm 2000 mới tạm gọi là đỡ đói, trong khi trên trường quốc tế chả có thế lẫn lực gì, vẫn đi ăn xin, bị thằng anh nó dọa một phát là sợ són đái ra quần.

    Để có được đồ chơi mạnh trong tay, bắc triều tiên đã khéo léo lợi dụng cả hai thằng đàn anh nga, tàu xây dựng cho BTT một lò phản ứng hạt nhân, rồi từ đó tự mình … làm nên “sự nghiệp”.

    Còn csvn thì sao? hãnh diện với trò núp lùm lúp bụi huyênh hoang tự đắc chiến thắng “vĩ đại”, mà quên không biết rằng chỉ huyênh hoanh phét lác xó làng với người dân VN mà thôi. Trên trường quốc tế thì vì lịch sự, vì ngoại giao người ta chỉ cười, tướng mcnamara của mỹ, khi được hỏi nghĩ gì về võ nguyên giáp, ông ta cười mà trả lời: nếu ở nước tôi, cầm quân mà chết quân nhiều như thế thì trong vòng một tuần đã vào tù ngồi rồi làm gì có cái loại tướng như thế!
    Vì đầu óc làng xã, thôn xóm nên cộng sản vn, thấy rằng lừa gạt ký thỏa thuận lừ gạt paris 1973, rồi dồn quân đánh chiếm miền nam là thành công vĩ đại rồi, tha hồ vơ vét tài sản miền nam, tuyên truyền tự sướng trong làng cho bọn thua trận nhục nhã vì sự lường gạt của mình là đủ, những điều này cho thấy rõ ràng là bọn đầu óc chim sẻ, kiếm được con sâu cái kiến là hạnh phúc rồi!
    Vì chỉ biết đên con sâu cái kiến là cuộc sống hạng phúc, nên có những việc phải làm đối chọi trên trường quốc tế, bọn óc chim sẻ làm gì biết dến!

    Trong khi BTT phải lần mò chịu lụy để có một lò phản ứng hạt nhân thì vn đã có một lò hạt nhân ở Dalat từ năm 1962. Lò phản ứng hạt nhân này được TT Ngô đình Diệm cho xây dựng ở Dalat vào năm 1962, lò phản ứng đầu tiên ở Đông nam á, có tên vào thời đó là: Nguyên tử lực cuộc Dalat.

    Lò phản ứng này có công xuất 250kw, sau khi chiếm được miền nam, người nga đã biết ngay sự lợi hại của nó và họ đã có mặt trước tiên tại lò phản ứng này, sau khi khám phá và giúp nâng công suất lên 500kw, thì có lẽ họ thấy sự ngu dốt và vô dụng của bọn csvn, nên họ bỏ mặc, và bọn vẹm cũng chả làm nên trò trống gì cho tới nay! nghe nói bọn vẹm vì sự ngu dốt và tham lam, nên dự định phá tán lò, phân lô bán nền để kiếm tiền tươi bỏ túi!

    Nếu biết lợi dụng sự giúp đỡ của người nga vào lúc đó, chế tạo được đồ chơi thứ thiệt trong tay, thì bọn tàu cộng làm gì dám đe dọa đủ diều.
    Thế mới biết ai đầu óc như chim đại bàng ai đầu óc như chim se se!

    Xin đồng chí Nguy Tàn Dư Phét Lác cho biết thêm ý kiến về comment này.
    Cũng xin bà con nếu biết thêm điều gì mới về lò Nguyên tử lực cuộc Dalat, xin cám ơn

  3. Tội nghiệp dân bắc kỳ, bao nhiêu thanh niên trai tráng bị dồn hết vào lò lửa miền nam theo lệnh mao xì toóng, để mà chống mỹ cho đến thằng bắc kỳ cuối cùng, kết quả là thanh niên khỏe mạnh miền bắc không còn, hay nói đúng ra là còn mấy anh đui què sứt mẻ, vì các anh không cầm súng nổi, cùng với mấy ông già hết gân.
    Rồi lấy ai để làm nhiệm vu thay thế đám thanh niên bắc kỳ bị dồn hết vào lò lửa miền nam? thế là đồng chí hồ chí minh NÂNG QUYẾT TÂM CAO, mời quân đội tàu sang làm nhiệm vụ thay thế thanh niên bắc kỳ, về việc này đồng chí hoàng văn hoan ủy viên bộ chính trị, viết trong hồi ký (Giọt Nước Trong Biển Cả) chương (P6 – Chương 1 & 2) như sau:
    “theo yêu cầu của Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Mao Chủ tịch và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phái hơn ba mươi vạn bộ đội Trung Quốc gồm phòng không, công trình, đường sắt và hậu cần, mang theo toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện, máy móc và vật liệu sang giúp Việt Nam…”
    à thì ra nhờ hoàng văn hoan người ta mới biết nguyên bộ sậu đảng ta củng nhau cõng rắn về cắn gà nhà chứ không phải một mình hồ chí minh, việc này đảng và nhà nước ta dấu như mèo dấu “kít”, chỉ sau khi đảng và nhà nước tàu (không phải nước ta) công bố chi tiết người dân mới biết rõ sự thật bộ mặt “cõng rắn cắn gà nhà” của đảng và nhà nước ta!

    Nhận được yêu cầu của đảng và nhà nước ta, đồng chí mao xì toóng vui sướng tột cùng vì những có thằng ngu trúng kế mình, bèn gởi ngay 350 ngàn hậu duệ “Lao Ái” sang đất bắc làm nhiệm vụ gieo giống đỏ, đó là “kỹ thuật” mà Lã bất Vi dùng để buôn bán cả vua.
    theo sử sách tàu thì lao ái là người bảnh trai, có của quý to, cứng đến nỗi xỏ vào làm trục bánh xe mà quay vù vù vẫn không sao, những dâm phụ trong xóm cho là “vật quý”, tranh nhau để được gần Ái.

    Khi tin tức bí mật 35 vạn hậu duệ lao ái được được đảng và nhà nước tàu tung ra, biết không dấu mãi được, đảng và nhà nước ta vội cải chính là những lao ái con này đươc gởi qua chỉ làm việc hậu cần chứ không chiến đấu giết người như lính Mỹ, ..hú vía.. những lao ái con này được gởi qua chỉ để “làm việc hậu cần chứ không cầm súng giết người như lính mỹ”: nhờ cải chính này giúp em hiểu tại sao đất bắc lại có những “bến không chồng” để giúp các lao ái con làm nhiệm vụ “hậu cần”, các bà các cô miền bắc đang nằm mốc cả ra – vì thanh niên trai tráng bị dồn hết vào nam chống Mỹ kíu nước tàu hết ráo- cứ tới những “bến không chồng” là được các lao ái con làm việc hậu cần chăm sóc kỹ lưỡng, hậu quả là ít nhất cũng có tới 1/3 dân số bắc kỳ có dòng máu lao ái trong người!
    Vì có dòng máu lao ái trong người, nên bọn này bênh vực tàu khết tiếng, ĐẠI TƯỚNG phùng quang thanh bộ trưởng bộ quốc phòng bắc kỳ, trịnh trọng tuyên bố:

    “TÔI THẤY LO LẮNG LẮM, KHÔNG BIẾT TUYÊN TRUYỀN THẾ NÀO, CHỨ TỪ TRẺ CON ĐẾN NGƯỜI GIÀ CÓ XU THẾ GHÉT TRUNG QUỐC. AI NÓI TÍCH CỰC CHO TRUNG QUỐC LÀ NGẠI. TÔI CHO RẰNG, CÁI ĐÓ LÀ NGUY HIỂM CHO DÂN TỘC”

    thằng thanh này chắc dòng máu trong người nó “toàn tổng” là dòng máu lao ái.
    thằng thanh này chắc rúc đít tàu để hưởng thú hít “sái” chiến thắng vinh quang tàu hơi bị nhiều, một thằng bộ trưởng QUỐC PHÒNG mà như thế này thì đất nuớc VN hy vọng gì tồn tại mà những thằng hậu duệ lao ái thời đại hồ chí minh cứ khoe khoang thành tích chiến đâu giỏi giang … bla… bla

    đồng chí Nguy Tàn Dư Phét Lác ạ, nói ra điều này sợ đồng chí nổi tự ái “rân tộc”, nhưng em đoán trong người đồng chí ít nhất cũng có 1 lít dòng máu lao ái, vì thấy đồng chí hung hăng kiểu lao ái hơi bị nhiều. hahahaha!
    Nếu có giờ em sẽ viết nhiều về kỹ thuật “buôn vua” mà “lã bất vi thời đại- mao xì toóng” dùng để xử bọn cộng sàn VN

  4. Hoan hô dân tộc cờ Vàng,
    Gởi Đô cứu đói họ hàng gần xa!
    Mười năm Quá Độ trôi qua,
    Việt Nam nghèo đói thứ ba địa cầu!

    Những năm Đổi Mới về sau
    Cũng nhờ dân Ngụy ào ào gởi đô
    Sài Gòn hưng thịnh cơ đồ
    Vực nền kinh tế dưới mồ Mác Lê!

    Đúng thời, dân Ngụy chỉnh tề
    Cờ Vàng treo khắp đường đê xóm làng
    Thế là lịch sử sang trang
    Ngụy dân Ngụy quốc giàu sang hùng cường!

  5. Nếu không có Hồ và đảng cộng sản thì Pháp không sớm thì muộn cũng sẽ trao trả độc lập cho VN như Pháp đã làm như thế với Campuchia,Angêri và một số nước khác sau đệ nhị thế chiến(bởi thời khắc cuộc diện thế giới đã đòi hỏi như vậy ) và không cần có trận Điện Biên Phủ đã giết chết rất nhiều người Việt và do không có trận Điện Biên Phủ nên đất nước không bị chia đôi,cũng không có đấu tố,cải cách ruộng đất(rất nhiều người bị chết oan),cũng không có nội chiến người Việt giết người Việt ,đất nước bị tàn phá,không có 30-04-1975 để không có đánh tư sản, vụ nạn kiều,đổi tiền,đi kinh tế mới,không có hàng loạt người tìm đủ mọi cách vượt thoát ra khỏi nước đủ kiểu mà đa số là đi bằng đường biển để rồi biết bao người phải bỏ mạng nơi biển khơi (do bão,thuyền chìm vì quá đông,bị hãi tặc giết),cũng không có chiến tranh với Polpot(bởi Khmer đỏ không thích Việt cộng), với bọn Tàu 1979 và 1984(trận núi Lão Sơn ) để rồi ngoài người Việt bị chết thêm một mớ còn thêm đất nước vốn đã nghèo còn bị quốc tế cấm vận(do đánh và chiếm đóng Cam) khiến “dân ngu khu đen”càng sống dở chết dở.Không có Hồ và đảng thì đất nước ,vùng biển,tài nguyên không bị cụt ,ngắn đi ,vơi đi khá nhiều do phải cắt ải Nam Quan,thác Bản Giốc,vùng biển vịnh Bắc bộ,các đảo Hoàng Sa,Trường Sa,…cho Tàu do bị Tàu áp lực phải trả nợ tồn đọng từ kể lúc đánh Pháp,hoặc bị buộc cho thuê giá rẻ ,bị dùng vũ lực chiếm đóng.Không có Hồ và đảng thì xã hội VN không bị thoái hoá kỳ quái như hiện nay,trong khi Tàu dùng mọi cách áp lực lên cuộc sống (ngoài biển, tàu chiến Tàu nhung nhúc và các đảo Tàu chiếm ,đóng đầy lính với đủ loại vũ khí,trên đất liền đầy dân Tàu khạc nhỗ đóng chốt và xây phố và một số nơi chỉ có Tàu mới vô được như bô xít Tây Nguyên,văn hoá tuyên truyền cho Tàu phim ảnh sách báo và cả việc lấy chồng Tàu được quảng bá hết mức),nhưng một bộ phận thanh niên chỉ biết hưởng thụ,ù lỳ,vô cảm,rũ rượi như đàn cừu bị thuốc ,số khác thì bon chen,đua đòi theo danh lợi phù phiếm bất kể hiện tình đất nước,một số nữa thì thành điên điên khùng khùng,khôn nhà dại chợ,vọng ngoại,vô kỷ luật,khôn vặt ,gian vặt,ưa nói láo,xảo trá ,lật lọng do bị căng đầu phần vì bị buộc phải”sống,làm việc,học tập” theo đời Hồ và các lãnh tụ cộng sản khác mà đối chiếu lô gíc đúng sai ai cũng biết là xạo láo (biết các thành tích,điều tốt của Hồ là xạo láo nhưng không dám nói ra và do giữ mãi trong đầu nên bị căng thành khùng điên),phần vì do ráng bắt chước y chang bởi rõ ràng Hồ là một kẻ mặt xấu xạo chúa,tuy ít học nhưng thừa khôn vặt,thủ đoạn,hám danh và hay lật lọng,gian ác,phản bội(tố Phan Bội Châu cho Pháp để lấy thưởng,giết ân nhân là bà Năm Cát Hanh Long khi thấy không còn hữu dụng nữa,chơi đụ Nông Thị Xuân cho đã rồi sai người giết để tìm người khác !).Không có Hồ và đảng thì đất nước không nợ như chuá chổm như hiện nay,kinh tế thất bát,chỉ có tầng lớp đảng viên cao cấp ngày càng giàu sụ đi do tham nhũng hối lộ nhờ độc quyền cai trị còn đại đa số là nghèo khổ nhiều khi phải chạy ăn hàng ngày,giá trị dân tộc–dù cộng sản cố tình bơm phồng,tô son để mị dân– thông qua cái passport bị các nước ngoài ngấm ngầm hay công khai không muốn cho nhập cảnh (khi biết là người Việt)
    Tại sao vẫn còn có người ủng hộ cộng sản,ỡ đây không nói những người có lý lịch rặt của “phe thắng trận”, như nhân vật Lợi Minh ở Mỹ trên youtube(không biết qua Mỹ theo diện gì chứ tên nghe giống như Việt gốc Hoa hoặc thậm chí có thể là Tàu biết tiếng Việt–ông này ở Mỹ treo cờ đỏ sao vàng được chứ ở VN treo cờ vàng ba sọc đó là bị bắt ngay !) hay thỉnh thoảng có nickname nghe kêu”Tàn Dư Mỹ Ngụy Ba Que Khoát Lát”gì đó? Là bởi vì gia đình họ không dính líu đến chế độ trước nên không có ai bị đi học tập cải tạo để rồi nếu may mắn không chết vì bệnh,đói,tra tấn thì cũng thành thân tàn ma dại khi ra khỏi trại,hoặc gia đình không bị quy chụp,bị chửi,bị đánh tư sản khiến chỉ trong một đêm bao nhiêu tài sản như nhà cửa tài sản dày công bao năm làm ăn bị tịch thu,bị đuổi đi kinh tế mới để rồi sau đó liều đi vượt biên bị bắt,bị bỏ mạng,bị hiếp.Nếu những nhân vật như Lợi Minh,”Tàn Dư Mỹ Nguỵ,..” có gia đình lâm vào một trong những hoàn cảnh bi đát vừa kể thì câu đầu tiên của họ chắc sẽ là,”đụ mẹ cộng sản..”và câu cuối”cộng sản đụ mẹ”.Điều này muốn nói gì ? Nếu cộng sản không gây thù chuốc oán ,phạm tội lỗi với dân trong biết bao năm qua thì không ai hơi sức đầu nguyền rủa mãi chúng ,hay muốn xử chúng .Điều này chỉ có Tàu làm mà Tàu thì không cần rủa Việt cộng,chúng chỉ muốn xử triệt một cái bùm thôi!

  6. 45 bỏ nước ra đi ! Tìm cái Sống trong cái chết !Đây là cuộc bỏ phiếu bằng chân ! Chạy CS như tránh hủi ! Có lý do nào hay hơn xin các DLV cho
    biết .Có đất nước nào mà bi kịch kéo dài suốt 45 năm và nay vẩn còn tiếp diễn ! Thật vậy ,đại văn hào Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh đả mô tả hình ảnh một Thúy -Kiều bán mình chuôc cha.Nhưng hình ảnh đó chỉ diễn ra trong môt giai doạn của cuốn truyện dài. VN hôm nay ,bao nhiêu hình ảnh “Thúy Kiều chuộc cha” diễn ra ở mọi lúc,mọi nơi …mà không hồi kết thúc !Vì môt lý do : DCS vẩn còn ,tai họa không bao giờ
    hết./

  7. Ngụy Tàn Dư 3/// không nên đồng hoá bàn thân minh voi’ DAN TỘC VN . Ngụy là Ngụy và Dân Toc VN là Dan Toc VN, Ngụy va Dan Tọc là hai thực thể khác nhau.

    Dân Tọc Viet Nam bao gồm cà đai khối dân tọc trong đo’ toàn bộ dân số trải dài từ AI NAM QUAN tơi’ PHU QUOC’ HA TIÊN , PHÚ QUOC bao gốm tat cà những nguoi dân cua cả 2 miền bac’ nam.

    Ngụy SAi Gòn luc đo’ chi là mot thiêu số’ làm tay sai, làm lính đắnh thuê cho MẼO. Con số nay lên toi’ hàng triệu, nhưng củng chi là thiêu số’ khong thê đai diện cho DAN TOC đuoc nghen chưa.

    Sau 75 nha nuoc đua những kẻ này đi caỉ tạo vi trên bình diện dân tọc đat nuơc, những kẻ này đả từng là mấm mống cũa chien tranh, của chia cắt, cua chia rẻ cho nên đi tù hay đi cài tạo cho tot hơn là chuyen bình thường .

    Về mưc độ cưc hình thì các trat cai tạo này sao so sanh kịp voi’ tù CON ĐẢO, PHU QUOC’, PHÚ LƠI và hàng trăm trai tù raỉ rac khăp miên nam thoi đo’.

    NGUY TAN DƯ 3/// thường thì BI THẢM HOÁ tat cà những trai cai tao này nhằm để kêt an’ CSVN là tàn àc, v.v..v.v..v.v. SAu ngày 30 thang 4, Ngụy Tan Dư 3/// phịa ra nào là TẮM MÁU, MOI GIAN, MỔ BỤNG vnvnvnvnv. nhưng những đieu này khong xay ra . CSVN hoac bat cứ ai tai thoi điêm đo’ củng phai làm như thê’ đề ôn đinh tinh hỉnh và lap lai trât tự xa hội . Ví thê’ viêc gom lai các bác Ngụy Tàn Binh 3/// vao các trại và trong thoi gian đo’ thuong thảo voi’ MỸ để cho các bác ay’ đi theo MỸ sau khi đà hoàn thanh’ viec hoc tap. cho biêt the nào là lòng yeu nươc. .

    Nêu Ngụy SAI GON la kẽ chiến thắng thì khong ai dám khẳng định đieu gì xay ra vì chẳng ai dám khẵng đinh nhưng gì đà khong xảy ra bao giò. Tuy nhiên trong chừng mục nào đó, nguoi ta có thề hình dung ra sao bẳng cách dựa vào nhưn4g gi đa xay ra truoc đó tai các trai. tù như CON ĐÃO, PHU QUOC, CHI HOÀ, PHU LƠI. v.v…vv. . Mả đoi sóng tai các trai tù neu trên thì cả thê gioi’ đều phải rùng minh khi nghe kể lại những cực và NHỤC hình trong những trai đo’ .

    Thắng lam vua , thua làm NGỤY TAN DƯ . Dám choi dám chịu. Ngụy SAi Gon củng đả quyet tam tiêu diêt những nguoi CSVN cơ mà chứ có nhân hậu độ lượng gì cho cam . Chẳng may Ngụy SAi Gon đả khong là kẻ chiến thắng cho nên bay gió tha hồ kê khổ.

    Noi’ gi thi noi’, Ngụy TAn Dư có cáo buộc thoi phòng cho Viet Công lơoks bad truoc the gioi cờ naò đi nũa thì mot điêu chăc chắn ai củng phải nhin nhận rằng VC đà khong tằm máu , khong trà tù Ngụy TAn Dư 3/// như những gì mà họ tuyên truyền truoc đo’ . Nêu’ mà CSVN mà tàn ác như NGỤY TAN DƯ 3/// cáo buộc thì làm gì có nhiêú các bác NGỤy TAN DƯ 3/// nhiều thê’ tai. BOLsA CALI PHỌt NIA.

    Ngày 30 thàng 4 săp tơi’ cận kề thì máy bác Ngụy Tàn Dư lại tiêp tục hăng tiết vịt kè thì kể khổ, người thì kễ công, ngườì thỉ cay đắng mai miã. Chao ôi làm Viet Công chiến thằng trong thời chiến đà gian khổ, nhưng làm Viet Công trong thời bình củng lắm đa đoan .

    Đáng kiếp Viet Công ai biều chiến thắng làm chi. Lúc đó giả vờ thua để cho NGỤY SAI GON chiến thắng đi có phãi giờ này mồ yên mã đep không nào . Viet Công là thế dám chơi dám chịu, môt ăn mot thua, ăn thì xây dựng dất nước, thua thì nhắm mắt xuoi tay khong oán hận, chửi rũa, cay cú như đám Ngụy Tàn Dư 3/// hom nay .

    Thoi nghe máy cụ Viet Công . Nhỡ lần này chiến thằng rồi thôi nghen và chiên thằng đả đi vào lich sữ thì dĩ nhiên KHÔNG SƯẢ ĐỔI đuọc nửa, cừ bõ ngoài tai những ganh tức, tị hiềm, cay cú, thù hận mà lo kiến thiết xay dựng đát nước giàu mạnh cho xứng voi’ VAI TRÒ LICH SỮ của mình nghe may’ cụ Viet Công.

    Nguơc laị nều mà có cơ hội mà wính vơi’ Mỹ NGỤY lại mot lần nữa thì Winh’ chêt mẹ thằng MỸ thăng PHAP thôi nghen, riêng voi’ NGỤY SAI GON thì cứ vờ thua , để cho máy bác ay’ chiến thắng môt lần đi vì các bác ay’ CHƯA BAO GIÒ biết mùi của chiến thắng là gì vì có bao giờ mà kẻ HÈN NHÁT lại chiên thắng bao giờ . Ông bà ta có câu:

    QUAN ĐÂU CHO ĐƯÁ NGU SI – QUYỀN ĐÂU CHO ĐƯÁ HÈN NGỐI NÀi VAN.”

    • Quên tết Mậu Thân rồi à ?!
      Quên công hàm của phạm văn đồng rồi sao?!
      Quên những người đã chết cho đảng mà không được công nhận là liệt sĩ rồi sao?!
      Đúng là bọn “Ngụy quyền csVN”

      • Công hàm PHAM VAN ĐỒNG đây nè Ngụy Tàn Dư 3///. Chì có đám NGUY TAN DƯ 3/// tuyệt vọng mới cáo bụôc công hàm PHAM VAN ĐỒng theo cách VONG NÔ của NGỤy mà thôi.

        https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-52436998

        Công hàm 1958 “không thừa nhận chủ quyền của TQ”

        Tiếp xúc với BBC News Tiếng Việt hôm 26/4, ông Raul Pedrozo, giáo sư luật quốc tế, cố vấn luật của Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, Hoa Kỳ, nói:

        “Theo ý kiến của tôi, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai liên quan đến tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc vào tháng 9/1958 chỉ đơn giản là để bày tỏ sự ủng hộ đối với tuyên bố lãnh hải rộng 12 hải lý mà Trung Quốc đưa ra. Nó không hề mang nghĩa thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa”.

        Ông Raul Pedrozo từng phục vụ trong Hải quân Mỹ, là cựu giáo sư luật quốc tế của Đại học Chiến tranh Hải quân (U.S. Naval War College). Ông là cố vấn luật quốc tế của Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, trợ lý đặc biệt của Thứ trưởng phụ trách chính sách Bộ Quốc phòng. Năm 2014, ông đã công bố công trình dày 142 trang về tranh chấp tại Biển Đông, trong đó có phân tích công hàm Phạm Văn Đồng .

        Chửi bọn MẼO bưng bô VC luon đi Ngụy TÀn Dư 3/// .hhahahhahah

    • Năm 2002 đảng và nước TQ có xuất bản cuốn hồi ký của các cố vấn tàu, ghi chép SỰ THỰC về việc đoàn cố vấn Trung Quốc và viện trợ quân sự cho CSVN chống Pháp lấy tên là “Hồi ký của những người trong cuộc” các vị này nhận công lao là tất cả các trận đông bắc cũng như Điện biên phủ là công của họ.

      võ nguyên giáp lúc đó còn sống khỏe mạnh, người ta chờ đợi ông ta nói lên một lời nói công đạo, và mọi người đã thất vọng vì ông ta câm như thóc, thật tội nghiệp công đánh pháp là của mình, người ta nhận mà không dám có một lời phản đối thì đâm đầu vào đống phân chết đi cho khỏi nhục, và cũng lạ, đảng và nhà nước ta cũng không có một lời cải chính, vậy thì công lao ở Điện biên là của đảng ta hay đảng tàu?
      đồng chí có ý kiền gì về vấn đề này?

      Theo đánh giá của các nhà quân sự quốc tế nếu không có sự tham chiến TRỰC TIẾP BẰNG CON NGƯỜI và vũ khí của Trung Cộng thì dù có 100 hồ chí minh hay võ nguyên giáp CSVN cũng bó tay ở Điện Biên Phủ vì lực bất tòng tâm. đồng chí nghĩ gì về diều này?

    • Ối giời ơi! Thằng nhãi ranh chùi mũi chưa sạch lại vào đây xả rác rồi! Chắc đói quá phải giở trò copy paste bổn cũ soạn lại mãi mà chả có ma nào đọc, chỉ đủ cho cấp trên bố thí cho vài xu kiếm chút cháo. Mày có óc đâu mà ný với chả luận phải không con? Sao bác mày đây khuyên nhủ mày bao lâu mày chẳng nghe, mai sau cái đảng chết tiệt ở Ba đình chết theo quan thầy Tàu cộng thì tương lai con lấy gì sống? Lúc đó thì cạp đất mà ăn nghe con? Lúc đó đừng có mà than thân trách phận, có đi ăn xin bác mày đây cũng chẳng thương hại cho đâu! Đã bảo rồi mà không nghe thì ngu ráng chịu con nhé!

      • ông cứ chạy theo toi làm chi vạy. Ông khong đủ khà năng phản biện chi hết chì có chửi VUNG XICH CHÓ . Má chửi vung xich chó lá ăn đuơc ai nào .

        Chừi rủa là biểu hiện cua những kẻ thỉéu khả năng ly luận . Mà thiều khả năng ly luận thì sao LAT ĐUOC CONG SẢN nào . Tui đề nghị máy lảo ben Bolsa 3/// nên loại ong ra khỏi đám chong cong vì làm nhục thêm cho đám này vốn đà quá NHỤC .

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Tên