Người lính miền Nam Việt Nam: Ký ức về chiến tranh Việt Nam và sau đó

7

 

Cuốn sách trên đây của GS Nathalie Nguyễn đã được ra mắt tại Melboune, Úc vào tháng 5, 2016. Hơn một năm sau, vào ngày 08-11-2017, tác giả đã được mời đến Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies – CSIS) tại Washington-DC để nói chuyện về cuốn sách này với một cử tọa gồm những chuyên gia và những người lưu tâm về lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Cuốn sách Người Lính Miền Nam Việt Nam dựa vào 52 chuyện lịch sử được kể lại bởi hai thế hệ của cựu quân nhân VNCH thuộc mọi binh chủng. Một trong những lý do khiến tác giả quyết định viết cuốn sách này là vai trò của người lính miền Nam Việt Nam đã bị bỏ quên trong những cuốn sách lịch sử về chiến tranh Việt Nam mà tác giả tin rằng đây là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa những nước cộng sản và những nước dân chủ.

Theo tác giả, cuộc di cư vĩ đại của một triệu người miền Bắc vào Nam vào năm 1954-1955 và bản chất tàn bạo và phi nhân của Cộng Sản là động cơ khiến cho người lính miền Nam quyết tâm chiến đấu. Ngay cả đến bây giờ, hơn 40 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, những cựu chiến binh miền Nam vẫn tin rằng họ đã chiến đấu cho chính nghĩa và hãnh diện đã phục vụ đất nước.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, đời sống càng trở nên tồi tệ với những trại tù cải tạo của cộng sản, những vùng kinh tế mới, gia đình bị ngược đãi, hàng trăm ngàn người vượt biên bất chấp nguy hiểm. Ngày nay 92 triệu người dân Việt hiện đang phải sống trong chế độ độc tài công an trị, tham nhũng lan tràn khắp nơi, tôn giáo và nhân quyền bị trà đạp. Đây là những hệ quả tất nhiên khi Cộng Sản miền Bắc chiến thắng như chúng ta cũng thấy ở Trung Quốc và Bắc Hàn.

Sách báo Tây phương thường suy luận rằng tình trạng tham nhũng và sự bất tài về chính trị và quân sự của miền Nam Việt Nam là nguyên nhân của thua trận. Nhưng các cựu chiến bình miền Nam cho đây những yếu tố được thổi phồng lên. Lý do chính là binh sĩ miền Nam đã không được trang bị đầy đủ, chưa kể đến tình trạng chia rẽ cực kỳ trầm trọng trong nội bộ của Hoa Kỳ. VNCH được đồng minh dùng làm bung xung một cách thuận tiện.

Cá nhân tôi thấy rằng chiến tranh tại Afghanistan và Iraq cũng mang một âm hưởng như vậy khi Hoa Kỳ gặp khó khăn không thể chấm dứt mau chóng chiến tranh ở hai quốc gia này. Thật là dễ dàng đổ lỗi cho chính quyền địa phương và quân đội của hai quốc gia này.

 

Qua kinh nghiệm của những cựu binh sĩ miền Nam, tác giả nhận định rằng trong thời kỳ chiến tranh, Hoa Kỳ đã trang bị cho người lính miền Nam những võ khí lỗi thời so với võ khí do Nga và Trung Cộng viện trợ cho miền Bắc. Thí dụ Xe tăng M24 và M28 không thể so sánh với T4, T52 của Nga. Đại bác 105 mm và 155 mm không thể so sánh với đại bác 130 mm của Trung Cộng. Súng Carbine, Garand M1, M16 không thể so sánh với AK 47 và AK 50. Súng chống chiến xa M7, M72 không thể so sánh với B41, B42, và hỏa tiến SR7. Và cuối cùng Hoa Kỳ đã bỏ rơi người lính miền Nam Việt Nam.

Cuốn sách Người Lính miền Nam Việt Nam là tiếng nói của những người không có cơ hội nói lên quan điểm của mình. Cuốn sách Người Lính miền Nam Việt Nam cũng được dành để tưởng nhớ đến cha đã qua đời của tác giả, Ô. Nguyễn Triệu Đan, một nhà ngoại giao của VNCH. Ông từng là thành phần của phái đoàn VNCH tại Hội Nghị Paris dẵn tới Hiệp Định 1973. Chức vụ sau cùng của ông là Đại Sứ tại Nhật Bản vào 1974-1975.

TS Nathalie Nguyễn là giáo sư của Monash University, Úc. Cô tốt nghiệp tiến sĩ tại Oxford University, một trong những trường đại học nổi tiếng nhất thế giới. Những sách tác giả đã xuất bản gồm Memory is Another Country: Women of the Vietnamese Diaspora; Voyage of Hope: Vietnamese Australian Women’s Narratives; Vietnamese Voices: Gender and Cultural Identity in the Vietnamese Francophone Novel. Tên đầy đủ của tác giả là Nathalie Huynh Chau Nguyen. Cô thông thạo hai tiếng Anh và Pháp.

Nguyễn Quốc Khải

 

7 BÌNH LUẬN

  1. Sử gia Hoa kỳ Bill Laurie – một chuyên gia về Việt Nam, và từng là chuyên viên tình báo chiến lược của Hoa Kỳ, phát biểu :” Lý do chính khiến quân đội miền Nam bị đánh tan trong vòng mấy tháng trong năm 75 là vì Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ quân sự và kinh tế đến mức không một quân đội nào có thể chống đỡ để mà sống còn “.

    Và rằng ” năm 1968 và năm 1972, tuy trang bị kém hiện đại hơn so với quân Bắc Việt, nhưng chỉ cần đủ đạn dược là quân lực Việt Nam Cộng Hòa cũng đã giữ vững cõi bờ, giáng trả đối phương những đòn mãnh liệt “.

  2. Tiến sĩ Lewis Sorley nói tướng Creighton Abrams đã ca ngợi thành tích của quân đội miền Nam, ông nói tuy không lực Mỹ đóng một vai trò quan trọng, nhưng nếu các binh sĩ miền Nam không đứng lên chiến đấu quyết liệt như họ đã làm, thì hỏa lực Mỹ dù mạnh gấp 10 lần, cũng không giúp họ dành được thắng lợi.

    Tướng Creighton Abrams: Tư lệnh quân lực Hoa kỳ ở Việt nam từ 68- 72 .

    Tiến sĩ Lewis Sorley, tác giả các cuốn “A Better War”, The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam”, từng được đề cử cho Giải Pulitzer.

  3. Xin được nói rõ rằng nick Thanh và tôi Nguyen Thanh là 2 cá nhân khác biệt.

    Tướng Fred Weyand-tư lệnh cuối cùng của quân lực Hoa kỳ ở Việt nam 1972- 73: Sự trì hoãn lâu dài trong việc trang bị cho Quân Lực VNCH các vũ khí và chiến cụ tối tân, ít nhất là tương đương với những thứ đã được Nga và Trung Cộng trang bị cho địch quân, đã là yếu tố đóng góp lớn lao vào sự thiếu hiệu quả của quân đội này. Vào đầu năm 1968 một số súng M-16 đã được cung cấp cho lính Nhảy Dù và các đơn vị ưu tú của quân đội miền Nam Việt Nam, thế nhưng đa số các thành phần quân đội khác vẫn còn yếu thế hơn đối phương về mặt vũ khí. Mặc dù vậy, các lực lượng miền Nam đã chiến đấu đáng nể phục trong việc đẩy lui trận Tổng Công Kích của Việt Cộng năm 1968.

  4. Các đoạn bình luận nêu trên khá chính xác.Bằng chứng là trước năm 1962, tức 2 năm sau khi cái quái thai MTGPMN được thành lập sau vụ đồng khởi đầu năm 1960, quân đội VNCH vẩn còn xử dụng các loại vủ khí thời
    đê nhị thế chiến còn sót lại!Carbine và garant, FM làm sao địch lại AK47, B40 của Tàu vaB41 cũa Nga. Phải chi vủ khí nhẹ trang bị cho bộ binh VNCH và phụ lực quan ở nông thôn hiện đại ngang với vủ khí địch thì cục diện đả khả quan hơn cho VNCH lúc bấy giờ ! Mải đến 1962, lực lượng Miền Nam mới có AR15 và súng phóng lựu M40, đại liên mới và mìn claymore !

  5. Bill Laurie -sử gia Hoa Kỳ: Một cuộc thăm dò 9,604 chương trình truyền hình của NBC, CBS và ABC từ 1963 đến 1977 cho thấy rõ những sự thiếu sót của những cái gọi là bài tường thuật truyền hình. 0,7% chương trình nói về việc huấn luyện quân lực Việt Nam Cộng Hòa. 0,8% về bình định. 2,7% về chính quyền hay quân lực Việt Nam Cộng Hòa hay Cambodia. Tổng cộng chỉ có 392 chương trình, tức 2,7% toàn bộ các chương tŕnh tin tức truyền hình Mỹ, tường trình về Việt Nam Cộng Hoà. Không có một lời nào về hơn 200 ngàn hồi chánh viên Cộng sản, không một lời nào về quân lực Việt Nam Cộng Hòa thiện chiến. Không có lời nào về những phi công Ong Chúa lừng danh của trực thăng Việt Nam Cộng Hòa cứu mạng cho những toán lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ chạm địch dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu không phải là tất cả, đều nhớ hình ảnh bi hùng của một người Trung Hoa đứng trước đoàn xe tăng ở Quảng Trường Thiên An Môn, nhưng không ai biết trung sĩ thuỷ quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa Huỳnh Văn Lượm đứng trên cầu Đông Hà chặn đứng đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu súng chống tăng LAW của anh .

  6. Tiến Sĩ Lewis Sorley- tác giả của những tác phẩm về chiến tranh Việt Nam như A Better War, Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes : Trong Trung Tâm Văn Khố Quốc Gia của Hoa Kỳ (US National Archive) có hằng ngàn văn bản ghi lại những huy chương của Hoa kỳ trao tặng cho quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa để ghi nhận chiến công của họ. Tiếc thay, chẳng ai buồn nhắc đến.

  7. Đại tướng Louis C. Wagner Jr. : Đại đa số các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa mà tôi đã phục vụ đều đã chiến đấu giỏi. Luôn luôn bị địch quân đông gấp bội tấn công, họ vẫn ngăn chặn và sau cùng đánh bại cái đội quân trang bị và huấn luyện tốt của Bắc Việt. Không lực Hoa Kỳ, được các sĩ quan cố vấn Lục quân và Thủy quân Lục chiến Hoa-Kỳ phối hợp, đã giữ một vai trò chủ chốt trong sự thành-công. Bù đắp cho những khiếm khuyết về trang bị trong ngành pháo binh và không quân Việt Nam. ( Đại tướng Louis C. Wagner Jr., khi còn là sĩ quan cấp tá, giữ chức vụ cố vấn trưởng các đơn vị Bộ Binh và Thiết Giáp Việt Nam Cộng Hòa tại Vùng 1 Chiến Thuật )

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Tên