|

Tướng Võ Nguyên Giáp [2]

Tướng Võ Nguyên Giáp [1]

vo-nguyen-giap1Chỉ cần căn cứ vào nội dung bài viết cho thấy tự thân, đây là một tài liệu thiếu trung thực !! Nông dân mà có học thức, lại có thể truyền đạt chữ nghĩa cho con trai thì hẳn có đỗ đạt!! Có ruộng nương, nhưng lại tự cầy cấy lấy cho đúng gốc nông dân !!

Nhưng còn những chi tiết có tính cách gỡ tội cho tướng Giáp, viết nửa kín nửa hở cho tướng Giáp đến ấu trĩ:

“Cuốn sách có những chi tiết rất thú vị về năm sinh của đại tướng, những đoạn viết nói rõ âm mưu hiểm độc của thực dân Pháp nhằm mua chuộc cậu học trò trung học Võ Nguyên Giáp. Tuy nhiên, kết quả ngược lại, ông đã trở thành người học trò suất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh”

[1]Ibid

Viết rõ về năm sinh thì có gì là chi tiết lý thú? Âm mưu thâm độc của Pháp mua chuộc là gì sao không nói rõ ra? Thật ra nội dung cuốn sách được viết như sau:

(Trong một vụ ẩu đả với người Pháp, Võ nguyên Giáp bị bắt, kết án ba năm tù giam tại nhà tù Lao Bảo.

Khi đó quan cai trị Marty cho rằng không nên để Giáp bị giam lâu trong tù, vì ở trong tù chàng thanh niên sôi sục ý chí cách mạng này chắc chắn sẽ trưởng thành hơn do được tiếp xúc với các chính trị phạm khác, sau này có thể trở thành kẻ thù không đội trời chung của chính quyền thực dân, cho nên tốt hơn hết là tạo điều kiện cho anh ta học thành tài và anh ta sẽ khôn ngoan, dễ bảo hơn.

Sau đó, từ thân phận tù khổ sai. (Ở trên viết là ba năm tù giam, nay đổi ra tù khổ sai!!!), Giáp trở thành học sinh trường Trung Học Albert Sarraut, một trường học tốt nhất ở thuộc địa, thực tế là dành riêng cho con em người Pháp, và số ít quan lại hay công chức cao cấp người Việt được ưu đãi đặc biệt.

Marty đã mắc sai lầm lớn nhất trong cuộc đời hành nghề mật thám của mình. Georges Boudarel. “ Giáp”, 1977).

Chia sẻ với người đọc cuốn sách, nhà sử học Dương Trung Quốc cũng cho là một cuốn sách: Sự quan sát và phân tích của Boudarel vô cùng sắc sảo và thuyết phục dựa trên nguồn tư liệu phong phú xác thực, thể hiện cái nhìn của một người trong cuộc”.

Và chúng ta còn biết nói gì khi chính con trai vị đại tướng, ông Võ Hồng Nam, Hiện là Giám đốc công ty CP Máy tính truyền thông Hồng Nam) phát biểu trong buổi tọa đàm ra mắt cuốn sách:

“Cha tôi vẫn dạy, đã biết lịch sử thì phải biết cho đúng. Tác giả thể hiện góc nhìn của một người bạn từng chiến đấu cùng nhân dân Việt Nam về cuộc kháng chiến của dân tộc ta”.

[2] Ibid…

Nhưng theo tôi, cuốn sách của Cecil B. Currey, nhan đề: Victory at any cost: The Genius Of Viet Nam’s Gen. Vo Nguyên Giáp ghi lại đầy đủ chi tiết và trung thực hơn cả. Xin được tóm tắt như sau:

“Võ Nguyên Giáp trở thành một học sinh năng động tham dự vào cuộc để tang  Phan Châu Trinh và tham dự vào cuộc bãi khóa tại trường Quốc Học cùng với một người bạn là Nguyen Chi Dieu. Cha ông là Vo Quang Nghiem từng là một quan chức triều đình thuộc loại thấp nhất thường được gọi là cụ Cửu Nghiêm (Cửu là hàng thứ chín, bậc thấp trong hàng quan lại). Cha ông cũng làm thêm nghề Đông y và làm ruộng. Một phần nhỏ đất đai được cho cấy thuê. Dieu đã rủ Giáp vào đảng Tân Việt Cách Mạng đảng. Sau TVCMĐ bị tách làm đôi, VNG tham gia vào phía đảng cộng sản.

Trùm mật thám Louis Marty lúc đó ở Vinh dĩ nhiên có hồ sơ cá nhân về Giáp, biết Giáp thường gặp Phan Bội Châu.

Vào năm 1930, mật thám Pháp đã bắt một số người tình nghi hoạt động chống Pháp cùng với một số người khác trong đó có anh của Võ Nguyên Giáp là Võ Thuần Nho, Đặng Thái Mai, một giáo sư văn chương tại Quốc Học và một nữ sinh 15 tuổi tên Nguyễn Thị Quang Thái, nữ sinh Đồng Khánh. Người mà sau này là vợ của Võ Nguyên Giáp.

Đặng Thái Mai bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Quang Thái, hai năm tù. Riêng Võ Nguyên Giáp vì chứng cớ hoạt động không rõ ràng, nhưng quan tòa cũng xin xử phạt 2 năm tù khổ sai.

Sau 13 tháng bị giam tù ở Lao Bảo, một nơi gần với biên giới Lào Việt, chính quyền ra lệnh giảm án cho bất cứ án tù nào dưới 4 năm tù . Và tù nhân phải về quê nơi gốc gác để tiếp tục án tù còn lại. Giáp trở về Huế, nơi ông bị bắt giữ. Nhưng nhà cầm quyền ơ đây đòi trục xuất ông về lại làng An Xa. Giáp phản đối không tuân lệnh và về Vinh, nơi ở của giáo sư Đặng Thái Mai. Vinh cũng là nới bố của bà Thái- Nguyễn Huy Bình- làm ở sở Hỏa xa.  Về ở Vinh với Đặng Thái Mai mà con gái của ông Mai là Đặng Bích Hà, nhỏ hơn Giáp 19 tuổi thường gọi Giáp bằng chú. Và sau này trở thành vợ tướng Giáp và có với ông 4 người con.

Năm 1933, Đặng Thái Mai ra Hà Nội nhận dạy học ở trường Thăng Long, VNG ra Bắc theo.

Cũng theo tác giả, với một án tù chính trị như thế, con đường học của Võ Nguyên Giáp là không thể có được nếu không có sự giúp đỡ của Louis Marty.

Trong việc tiếp xúc giữa Marty và VNG, Marty đã khuyên giáp quay trở lại việc học và chuẩn bị cho việc thi tú tài 1 và 2. Chắc hẳn Marty đã ngầm giúp đỡ để Giáp có thể vào học ở trường Albert Sarraut.

Từ đó Giáp chỉ còn chuyên chú vào việc học và đọc sách. Giáo sư Đặng Thái Mai cho VNG ở nhờ đỡ tốn kém về tiền ăn ở, yên tâm học hành. Không có sự bảo trợ của Louis Marty, VNG không thể vào học được trường Albert Sarraut.

Sau khi đỗ xong hai bằng tú tài, Giáp ghi tên học luật khoa. Năm 1937, ông tốt nghiệp cử nhân luật. Nhưng để ra làm luật sư, ông phải hoàn tất một chứng chỉ hành chánh luật. Ông đã không hoàn tất.

50 năm sau được hỏi tại sao không học nốt luật để trở thành luật sư, VNG đã trả lời, ông đã không bao giờ mong muốn trở thành luật sư.

Và từ sau đó, người ta không còn hay biết gì về bóng dáng của Marty bao phủ trên cuộc đời của VNG nữa. Phải chăng việc giúp đỡ của con người bí mật Louis chỉ thuần túy có tính cách nhân đạo, hoàn toàn trong sáng vô tội hay ngược lại đòi hỏi cung cấp những thông tin như về đảng Tân Việt, về đảng cộng sản mới được thành hình, về những tên tuổi, về những kế hoạch đảng và những hoạt động bí mật vv..

Cho đến hiện nay, không có bằng cớ gì cụ thể về những nghi ngờ trên. Bao lâu chưa có đủ bằng cớ thì vẫn chỉ là những câu hỏi chưa có câu trả lời.

Những dư luận chung quanh tướng Võ Nguyên Giáp

Trước hết, ông Bùi Tín có nhận xét là VNG có thói quen ham đọc sách và tìm hiểu của một người trí thức.

[3] Bùi Tín, Viet Nam, la face cachée du régime , trang 40.

Có một điều ông Bùi Tín không nói tới một cách đầy đủ là kể từ khi được ông Hồ phong làm bộ trưởng bộ nội vụ, ông Giáp đã đặt ra ngoài vòng pháp luật những đảng phái Quốc Gia. Nói chung những ai không phải Việt Minh thì đều bị coi là “việt gian”, tay sai cho Pháp và bị tàn sát thẳng tay.

Tháng 8,1948, ông Hồ phong ông Giáp lên chức đại tướng.

Và đặc biệt Peter Macdonal, có thể là người duy nhất được dành cho phỏng vấn tướng Giáp đã viết như sau trong cuốn sách của ông, The victor in Viet Nam:

“It is difficult to compare him with other generals because his combination of guerrilla and conventional action on such a scale has not been seen before. In the main aspects of war, Giap was oustanding.”

[4] Giap, The victor in Viet Nam, Peter Mc Donald, trang 341

Sự kính nể ấy có phần đúng. Nhưng tất cả các tướng lãnh Mỹ hay Pháp cũng như các tác giả viết về tướng Giáp, không một ai có chút hiểu biết sâu xa, đầy đủ về mối quan hệ Việt – Trung trong trận chiến ấy. Nếu họ được đọc những tài liệu về phía Trung Quốc thì họ có còn giữ được sự kính nể nữa hay không?

Không nói đầy đủ về mối quan hệ Việt-Trung cũng như Việt-Xô trong vai trò nhiệm vụ Quốc tế cộng sản thì đánh giá về hai cuộc chiến ấy hoàn toàn thiếu cơ sở. Thật vậy, không có sự thống nhất nước Tàu năm 1949, không có Mao Trạch Đông thì diện mạo cuộc chiến tranh Đông Dương đã không diễn ra thuận lợi như vậy. Không phải chỉ một mình tướng Võ Nguyên Giáp lần lượt đánh bại 7 tướng lãnh Pháp. Mà còn Trần Canh, Lã Quý Ba và Mao Trạch Đông.

Người ta biết cả đấy, nhưng cứ tảng lờ đi như thể không biết.

Có lẽ Jean Sainteny là người hiểu rõ tướng Giáp hơn ai hết có nhận xét do trực tiếp quen biết về con người tướng Giáp là: Người nhỏ thó, nhưng rắn rỏi. Võ Nguyên Giáp kết hợp óc thông minh hơn người với một ý chí sắt đá và cá tính can trường.

Phải nói rõ thêm là lúc chưa là đại tướng thì lúc nào ông cũng ăn mặc chỉnh tề, quần tây áo vét, cà vạt, mũ phớt như một ông Tây thuộc địa con. Hình ảnh ông đi bên cạnh tướng Leclerc mà tôi nói ở trên và đoàn quân Pháp thật ấn tượng và đầy kịch tính.

Không biết có ai đó tìm được một bức ảnh tài liệu nào cho thấy tướng Giáp đứng bên cạnh những chiến sĩ kéo pháo trên mặt trận Điện Biên Phủ hay giữa những giao thông hào, tại Mặt trận Vĩnh Phúc Yên hay Chiến dịch biên giới? Theo như tác giả Bùi Tín, ông Giáp thường không có thói quen ra thị sát Mặt trận? Đã có lần nào ông đi thị sát chiến trường miền Nam sau 1955?

Ở trận chiến Điện Biên Phủ, người ta chỉ thấy vài bức hình chụp ông với Hồ Chí Minh, tại Bộ Chỉ huy chiến dịch- bao giờ cũng trải vài tấm bản đồ, tay thì chỉ chỏ- đóng kịch- như thể đánh nhau chỉ cần chỉ chỏ bằng bản đồ- và ông trú ẩn an toàn tại Bộ chỉ huy ĐBP tại hang Thẩm Púa, thuộc  Mường Phăng. Hang Thẩm Púa cách Điện Biên Phủ bao nhiêu cây số, thưa đại tướng?

Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, ông đi thị sát mặt trận, quần áo chỉnh tề, chân đi giầy ủng cao đến đầu gối!

Tôi chưa thấy vị tướng tài giỏi nào nhàn hơn tướng Giáp!!

De Lattre De Tassigny trong trận Vĩnh Phúc Yên dùng phi cơ quan sát trận địa và hạ cánh ngay tại nơi khói lửa mịt mù để trấn an binh sĩ !! De Lattre quả là tướng tồi chăng!!

Nhưng quan trọng hơn cả là tên tuổi ông được gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ. Những tác giả ngoại quốc sau này như Peter Mac Donald đều không thiếu những lời ca tụng và trân trọng. Nhiều tác giả không ngại xếp ông vào thành phần những danh tướng lớn của thế giới.

Ông cũng là tác giả nhiều đầu sách liên quan đến cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất như: Từ Nhân dân mà ra – Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử – Đường tới Điện Biên Phủ. Nhiều tác giả không ngại xếp ông vào thành phần những danh tướng lớn của thế giới. Điều đó nay đã đến lúc cần được nhìn lại một cách công bằng.

Ông cũng là người đứng đầu trong số những tác giả viết về Hồ Chí Minh như: Bác Hồ về Tân Trào – Tư Tưởng Hồ Chí Minh – Quá trình hình thành và phát triển – Hồ Chủ tịch, nhà chiến lược đại tài – Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi – Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường Cách Mệnh Việt Nam.

Nhưng cuốn được coi là quan trọng là cuốn hồi ức Những năm tháng không thể nào quên.

Có thể không còn lời lẽ nào mà ông không dùng để xưng tụng Hồ Chí Minh trong cuốn sách này. Đây có thể là cuốn sách để lại cho đời như một chúc thư về những năm tháng “không thể nào quên” của một người lính, một vị đại tướng và nhất là người học trò của Hồ Chí Minh như ông.

Ông viết như thể một nhà văn với những phẩm tính đẹp mà ít nội dung, đậm đà tình cảm mà ít dẫn chứng, ít lý luận mà nặng tuyên truyền:

“Bác đã đi giữa những ngày đông ảm đạm, vòm trời Châu Âu, Châu Á bị những đám mây đen chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc che phủ”.

“Từ năm mươi năm trước đây, người yêu nước Việt Nam vĩ đại đã tìm ở chủ nghĩa Mác -Lênin cho đồng bào ta và những người cùng hội cùng thuyền-những dân tộc bị đọa đầy vì chủ nghĩa đế quốc một con đường giải phóng duy nhất: Đường Cách Mệnh (…)

Đọc bản Tuyên Ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi:

- Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?

Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm:

- Co.o.ó!!

Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một !!

[5] Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên trong vnthuquan.net/truyen.

Nói chung cuốn sách có pha chế nhiều phẩm tính xa sự thực. Nó tóm gọn vào bốn chữ : Hận thù và hy sinh. Hận thù chất ngất đế quốc thực dân Pháp và bè lũ tay sai.  Hy sinh vô bờ bến với nhiều mỹ từ ưu ái dành cho Hồ Chí Minh- chỉ riêng Hồ Chí Minh- và chỉ một mình Hồ Chí Minh mà thôi- mà không một ai khác.

Mặc dầu vậy, tôi vẫn có cảm tưởng ông không được sự tin tưởng của HCM đáp lại một cách tương xứng !! Mặc dầu ông được giao phó nhiệm vụ lớn lao trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Ở đây, chỉ xin thưa với vị đại tướng nay đã 101 tuổi là câu chuyện : Đồng bào nghe rõ không ? chỉ là một câu chuyện giả tưởng đã được nhiều người truyền tụng.

Chẳng dám nói là một câu chuyện có tính  bịa đặt. Nhưng cũng xin để người trong cuộc- Ông Nguyễn Hữu Đang- người tổ chức lễ đài nói lại cho rõ.

Nếu cho rằng câu chuyện chỉ nhằm mục đích tuyên truyền thì không nói làm gì. Nhưng viết sách thì lại là chuyện khác.Theo tiết lộ của ông Nguyễn Hữu Đang với Bùi Tín sau này thì câu chuyện đơn giản chỉ là : Ông Hồ trước khi đọc bản Tuyên Ngôn, theo thói quen gõ vào máy mi-crô và hỏi nhỏ anh thợ điện phụ trách âm thanh: Nghe rõ không ? Nếu anh thợ điện trả lời nghe rõ thì ông Hồ sẽ đọc bản tuyên ngôn.

Câu chuyện chỉ có thế- giữa anh thợ điện và người đọc tuyên ngôn !! Bỗng chốc trở thành câu truyện của hàng triệu người hò vang như sấm dậy, cả biển người đã hòa làm một !

Mà thành phố Hà Nôi, lúc bấy giờ lấy đâu ra một triệu người nhỉ !!

Thành phố Hà Nội vào năm 1921 có khoảng 4000 người Âu Châu và dân chúng địa phương có 100.000 ngàn dân.

Giả dụ vào năm 1946, dân số có thể tăng lên gấp đôi, gấp ba thì cũng chỉ có khoảng 500.000 người là cùng.

Mark Philip Bradley trong cuốn sách Viet Nam at war, không biết lấy số liệu ở đâu cho rằng có  khoảng 400.000 tham dự buổi mít tinh.

[6] Mark Philip Bradley Viet Nam at war, trang 09

Nhưng cuộc đi biểu tình ngày hôm đó phần đông là giới công chức và dân thị thành. Con số hẳn là không nhiều.

Cho là 10.000 đến 30.000 người cũng là đông lắm rồi. Đại tướng lấy con số tròn một triệu người là quá đáng !!

[7] Xem thêm Indochina của Pierre Brocheux và Daniel Héméry, phần nói về Geographic distribution of the French in Indochina, 1913-1940, trang 183.

Vì thế, thử hỏi chúng ta đọc được bao nhiêu là sự thật về các trận đánh trong các hồi ký của ông Võ Nguyên Giáp? Biết được sự thật gì về việc thanh trừng, ám sát các cán bộ của các đảng phái Quốc Gia mà ông vốn căm thù?

Chúng ta biết được gì về những lãnh tụ hàng đầu của cộng sản thời kỳ sơ khởi như Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai.

Đối với ông chỉ có một lãnh tụ- một con người, đó là chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong bài trả lời cuộc phỏng vấn của Neil Sheehan,  ký giả Mỹ đã hỏi ông: có phải sự thật là ông đã không qua một trường huấn luyện quân sự nào? Ông Võ Nguyên Giáp đã nói quanh co là ông đã vào thư viện Hà Nội, tìm Bách Khoa tự điển để học hỏi những tài liệu quân sự ở trong đó. Một lần khác, tướng Jacques Philippe Leclerc- người đã giải phóng nước Pháp khỏi quân Phát xít Đức- cũng đã hỏi một câu tương tự – tướng Giáp chỉ cười và đã trả lời: Ông chỉ học quân sự trong rừng rậm.

Câu trả lời nửa sự thật này làm tăng giá trị cho cá nhân tướng Giáp.

[8] Neil Sheehan, After the war, Ha Noi and Saigon, trang 13

Ông Giáp vốn ít nói, ngược hẳn với ông Hồ mềm dẻo, khéo léo. Cứ tin vào sách vở ông viết thì ông là học trò số một của ông Hồ? Nhưng khi ông Hồ chọn Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất thì rõ ràng trong mắt ông Hồ không có ông Giáp!!

Nhưng câu hỏi quan trọng nhất khi viết về tướng Giáp là hiện nay với rất nhiều tài liệu của Trung Quốc được tiết lộ và những tranh chấp giữa ông Giáp một bên, Lê Duẩn-Trưởng Chinh, Lê Đức Thọ một bên thì liệu những chiến công hiển hách có còn giữ được không?

Có thể nói tướng Giáp sống còn sau những tranh chấp trên chỉ nhờ một chữ mà thôi: Chữ Nhẫn.

© Nguyễn Văn Lục

© Đàn Chim Việt

25 Phản hồi cho “Tướng Võ Nguyên Giáp [2]”

  1. Bùi Lễ says:

    quang phan says:
    “… Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Giáp cùng Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Tàu, và tại đây đã gặp Hồ chí Minh và gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương ….”

    Rất là cám ơn Quang Phan. Như vậy có nghĩa Không một ai trong đảng việt cộng biết
    Hồ CMinh trước khi Hồ ở VN Hay ở Pháp mà đảng việt co6.ng chỉ biết Hồ chí Minh ở
    Tàu (Trong Tù được Nghiêm Kế Tổ lãnh ra) . Tôi có ý nghĩ này, có thể Cụ Phan Bội
    Châu biết rỏ Hồ Chí Minh “trước” khi về Tàu cho nên mới Bị Hồ chí Minh “sau khi” ở
    Tàu bán cho Pháp Lý do không muốn bị lộ . Diều này có thể cho Thấy Hồ chí Minh
    80% là do điệp viên Tàu đưa vào VN .

    Tôi còn nhớ,i sau 75, thằng bạn trung học (nó giỏi chữ Hán do ông già nó dạy) lúc
    uống rượu nó có nói Hồ chí Minh thật đã chết trong tù và Hồ chí Minh này là
    người khác. Lúc đó thì còn trẻ (lớp 12) cách mạng mới thành công nên ham vui
    (a dua) không để ý nên không hỏi . Giờ thì cũng có người nói như thế nên tôi
    nghĩ là thật Hồ chí Minh mà cã nước VN “tôn thờ” có thể là đang tôn thờ con
    Tu hú!

  2. tudo says:

    Vừa mới …đẻ ra thêm ” một quái thai … ! ” ngài : đại tiện ! có bằng tiến XỈ !!!! phát biểu hay quá sức….! xin Bộ Đội của Đảng CS VN cho…ngài có chức ( chớ đọc nghỉa xấu ) thăng lên thành …TƯỚNG,sỉ,tượng mà các bà THÍCH cầm nhất….! .

  3. nvtncs says:

    Lịch sử chiến tranh VN do TQ viết, phần một, Google dịch, nguồn:

    http://www.defence.pk/forums/world-affairs/140438-chinese-support-north-vietnam-during-vietnam-war-decisive-edge.html

    “Hỗ trợ quân sự của Trung Quốc, 1950-54

    Hồ sẽ chính thức yêu cầu viện trợ quân sự trong bản chất của thiết bị, tư vấn và đào tạo cho PAVN vào tháng Tư năm 1950. Khá thú vị là ông cũng sẽ yêu cầu Trung Quốc chỉ huy từ cấp trung đoàn và tiểu đoàn để hỗ trợ quân đội Việt Nam, một yêu cầu bị từ chối một cách khôn ngoan của Trung Quốc, những người sẽ gửi các cố vấn, không chỉ huy miền Bắc Việt Nam. [23] yêu cầu như vậy để chỉ huy các đơn vị PAVN Trung Quốc nhấn mạnh các vấn đề lãnh đạo có mặt tại thời gian trong các lực lượng Việt Nam, và thiếu tự tin trong chỉ huy Việt Nam hiện hành.

    Nhóm tư vấn quân sự Trung Quốc
    Sau khi yêu cầu này Hồ, Trung Quốc vào tháng Tư năm 1950 sẽ bắt đầu hình thành Trung Quốc Military Advisory Group (CMAG) để cung cấp viện trợ quân sự cho các lực lượng Việt Nam đánh Pháp. Tướng Wei Guoqing sẽ dẫn CMAG miền Bắc Việt Nam, cùng với Đại tướng Chen Geng, “học giả nói chung”, và Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thứ hai, thứ ba và thứ tư quân đội PLA lĩnh vực được đạo diễn để chọn cán bộ có kinh nghiệm cho các dịch vụ tại Việt Nam. Khoảng 281 cán bộ được lựa chọn với nhiều người có kinh nghiệm chỉ huy. [24]

    Chủ tịch nói chuyện với enroute cố vấn quân sự của mình tại Việt Nam, “Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã hỏi tôi [], hỗ trợ của bạn Ai có thể nghĩ rằng cuộc cách mạng của chúng tôi sẽ thành công đầu tiên? Chúng ta nên giúp đỡ họ. Nó được gọi là quốc tế. Bạn sẽ giúp họ giành chiến thắng trong trận chiến sau khi bạn nhận được để Việt Nam “[25] Các cố vấn của CMAG sẽ làm chính xác rằng, cũng như tác động của các chuyên gia Trung Quốc và vũ khí mới cho các PAVN sẽ sớm được rõ ràng trong chiến tranh. Tiêu chuẩn Trung Quốc Mao giáo lý cho cuộc chiến tranh cách mạng sẽ được nhấn mạnh và các cố vấn đã được thông báo để tránh sự “tâm lý của chủ nghĩa Sô vanh nhà nước lớn và không để hiển thị khinh miệt đối với người Việt Nam”. [26] Năm 1950, người Pháp đã gần như hoàn toàn mất kiểm soát khu vực biên giới với Trung Quốc với các đơn vị đồn trú cô lập tại Cao Bằng và Lạng Sơn phải vật lộn để duy trì một sự hiện diện.

    Khu vực biên giới sẽ là thử nghiệm đầu tiên của lực lượng PAVN mới của Trung Quốc được đào tạo và được trang bị. Tổng Chen Geng đã viết trong một báo cáo rằng “Một số đơn vị nứt Việt Nam trong tinh thần cao sau khi nhận được đào tạo và trang thiết bị ở Vân Nam và Quảng Tây, nhưng các cán bộ Việt Nam trên kinh nghiệm cấp tiểu đoàn lệnh thiếu trong chiến đấu thực tế. [27] Đây là một tuyên bố chính xác liên quan đến PAVN nhưng nó là một vấn đề về để được sửa chữa.
    CMAG sẽ cung cấp hướng dẫn lập kế hoạch, trong số những thứ khác, cho các Chiến dịch Biên giới sắp tới của năm 1950. Chiến dịch này sẽ bắt đầu vào tháng Chín với đơn vị đồn trú sau khi đơn vị đồn trú rơi xuống Việt Minh ở phía bắc với những mất mát to lớn cho các đơn vị đồn trú Pháp bị cô lập gần biên giới Trung-Việt. Đông hơn 8 tới 1 người Việt Nam, người Pháp sẽ mất một lượng bao la của nam giới bao gồm có 6.000 10.000 người ở phía bắc, và nguồn cung cấp bao gồm 13 khẩu pháo, 125 súng cối và 450 xe tải, trong những gì một số người đã mô tả như là sự thất bại lớn nhất trong lịch sử thuộc địa Pháp ở Bắc Mỹ kể từ Chiến tranh Pháp và Ấn Độ. [28]

    Trong vòng 48 giờ sau khi các cuộc tấn công thành công trên những tiền đồn Pháp bị cô lập ở phía bắc, Trung Quốc Chen sẽ giữ những gì chúng ta gọi ngày hôm nay một hành động sau khi xem xét. Chen sẽ ngắn gọn Giáp và các cán bộ cấp cao khác cho bốn giờ vào những thiếu sót của quân đội Việt Nam. Những comings ngắn theo Chen sẽ bao gồm không theo thứ tự cho trận đấu và tấn công cuối, các chỉ huy không hàng đầu các cuộc tấn công từ phía trước, thông tin liên lạc nghèo, cán bộ báo cáo sai với cấp trên. [29] ta tự hỏi làm thế nào những lời chỉ trích như vậy đã được nhận nhưng đánh giá như vậy là rất quan trọng cho sự phát triển cải tiến tiếp theo và một quân đội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp “chiến thắng cho thấy tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông là rất áp dụng đối với Việt Nam”. [30]

    Ngoài việc đào tạo và hướng dẫn quy hoạch bởi CMAG hỗ trợ hậu cần từ Trung Quốc bắt đầu tăng đều đặn. Sự hỗ trợ là chỉ có 10-20 tấn một tháng vào năm 1951, tăng đến 250 tấn một tháng vào năm 1952, tăng thêm 600 tấn một tháng vào năm 1953 và 1.500 đến 4.000 tấn hàng tháng trong năm cuối cùng của cuộc chiến tranh năm 1954. [31] Ngoài ra mạng lưới giao thông của Trung Quốc bao gồm đường bộ và đường sắt đi từ Trung Quốc sang Việt Nam cũng đã được cải thiện với khoảng 1.000 xe tải cung cấp cho PAVN các. Viện trợ quân sự này được cung cấp bởi Trung Quốc cho phép PAVN để mở rộng thành một lực lượng thông thường cũng vũ trang và được đào tạo có khả năng đánh bại quân đội Pháp trong các hoạt động tấn công quy mô lớn. Từ một lực lượng vào năm 1950 trong 3 đơn vị PAVN hai năm sau đó sẽ mở rộng thành một lực lượng của 7 bộ phận. Tất cả trong tất cả các viện trợ quân sự của Trung Quốc sẽ bắt tổng cộng hơn 7 đơn vị PAVN. Tất cả điều này hỗ trợ quân sự sẽ không đi không được chú ý bởi phía tây, với CIA, tháng ba năm 1952, ước tính khoảng 15.000 Cộng sản Trung Quốc đã phục vụ tại Việt Nam trong các “kỹ thuật, năng lực tư vấn và đơn vị đồn trú” với PAVN chống Pháp. [32] Quân đội Việt Nam bây giờ là một lực lượng gây chết người cũng được trang bị vũ khí hạng nhẹ, súng máy, súng cối 120mm nặng và pháo 105mm, ngoài 20 và 40mm pháo chống máy bay. [33]

    Trận chiến quyết định của Điện Biên Phủ

    Đến năm 1954 “Giáp và Trung Quốc đã xây dựng được một khó khăn, được trang bị tốt, có kinh nghiệm, và dành riêng army-một công cụ đang chờ một nhiệm vụ lớn và thợ thủ công một bậc thầy”. [34] nhiệm vụ lớn sẽ là trận đánh quyết định của Điện Biên Phủ năm phía tây Việt Nam gần Lào, một trận chiến sẽ kết thúc chiến tranh Việt Nam đầu tiên và sự hiện diện của Pháp ở Đông Dương. Bằng chứng cho thấy rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam không thấy cơ hội được cung cấp bởi các reoccupation Pháp của thung lũng cho đến khi chuyên gia Trung Quốc cảnh báo Việt Nam, những người ban đầu muốn để di chuyển qua Lào để xâm chiếm miền Nam Việt Nam, cho đến khi thuyết phục khác bởi Tổng Wei Guoqing. [35] Ngoài ra CMAG sẽ cung cấp cho Việt Mihn với một bản sao của Kế hoạch Navarre, phác thảo các mục tiêu và mục tiêu của người Pháp Lệnh Pháp mới ở Việt Nam.

    Với việc ký kết đình chiến của Hàn Quốc trong tháng 7 năm 1953, Trung Quốc có thể và sẽ chuyển các nguồn lực bổ sung cho Việt Nam. Cụ thể hỗ trợ cho chiến dịch Điện Biên Phủ sẽ bao gồm lập kế hoạch, hậu cần, cố vấn kỹ thuật, xe tải, tiểu đoàn tên lửa và súng trường 75mm không giật, và Phóng tên lửa Katyusha của Liên Xô hoặc trụ sở kết hợp được thành lập như huy chiến dịch Điện Biên Phủ “Stalin bộ phận cơ thể”. với Tướng Giáp là Commander in Chief với Trung Quốc Tổng Wei Guoqing làm Tổng Cố vấn. [36]

    Giáp viết vào những năm sau trận đấu rằng: “Tôi cảm thấy có cần thiết để có một cuộc họp với người đứng đầu nhóm nghiên cứu của các chuyên gia quân sự thân thiện với người cũng có mặt. Nói chung, mối quan hệ giữa chúng tôi và các chuyên gia quân sự thân thiện kể từ khi chiến dịch biên giới đã được xuất sắc. Bạn bè của chúng tôi đã cho chúng ta những lợi ích của kinh nghiệm vô giá của họ được rút ra từ cuộc chiến tranh cách mạng ở Trung Quốc và cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Hàn Quốc “[37]. Điều thú vị là trong tài khoản của ông Giáp trận chiến làm cho không có đề cập đến các tài liệu hỗ trợ của Trung Quốc hoặc tư vấn và hỗ trợ lập kế hoạch cung cấp trong suốt trận chiến cuối cùng này quyết định của cuộc chiến tranh Việt Nam đầu tiên. Các cố vấn Trung Quốc, như General Wei Guoqing, không được xác định hoặc cho bất kỳ tín dụng của Giáp. Có lẽ điều này là dễ hiểu cho rằng một trong những cố vấn Trung Quốc sẽ viết rằng: “Khiếm khuyết lớn nhất của Cộng Sản Việt Nam là nỗi sợ hãi của mình cho người khác biết điểm yếu của họ. Họ thiếu Bolshevist tự phê bình “. [38] Cuộc bao vây Điện Biên Phủ là kéo dài 8 tuần với Trung Quốc cung cấp 8.286 tấn vật tư, bao gồm 4.620 tấn xăng dầu, 1.360 tấn đạn dược, 46 tấn vũ khí và 1.700 tấn gạo từ kho cung cấp 600 dặm. [39]

    Các cố vấn Trung Quốc sẽ được tham gia ở tất cả các cấp trong trận chiến bao gồm cả việc đào bới trong pháo binh Việt Nam đều quan trọng vào dugouts shellproof, kinh nghiệm học được cách cứng trên các ngọn đồi của Hàn Quốc. [40] Trong thực tế, trận chiến Điện Biên Phủ sẽ được lập kế hoạch và sự hỗ trợ của chuyên gia Trung Quốc và chiến đấu với Trung Quốc được đào tạo, trang bị, cung cấp, vận chuyển và nuôi PAVN quân đội trong một canh quân sự để cách các loại hạt. Sự hỗ trợ này là rất hiếm khi được đề cập đến như là một yếu tố góp phần vào chiến thắng của Việt Nam vào năm 1954 nhưng phải được thừa nhận trong phân tích các trận chiến.

    Hỗ trợ sau chiến tranh, 1955-63

    Năm 1954, với sự kết thúc của Chiến tranh Việt Nam, và sức mạnh hội nghị Geneva Big, Việt Nam sẽ được chia thành hai quốc gia, Bắc và Nam Việt Nam. Trong Hồ Bắc và sự chú ý của đảng sẽ được tập trung, ít nhất là trong vài năm, về quyền lực củng cố và phát triển kinh tế. Cộng sản không thể tránh khỏi tập thể và các toà án bắt đầu tịch thu, bắt giữ, các cuộc nổi dậy của địa phương và thực hiện là 15.000 Việt trước khi đặt hàng có thể được phục hồi bởi PAVN. [41] CMAG trở lại Trung Quốc vào tháng Chín năm 1955 đã hoàn thành sứ mệnh của mình, rất có thể một trong những nhiệm vụ tư vấn thành công nhất bao giờ hết. [42]

    Trung Quốc sẽ tiếp tục, tuy nhiên, để cung cấp mức độ đáng kể viện trợ quân sự cho miền Bắc Việt Nam để điều chỉnh là $ 106 triệu USD từ 1955 đến 1963, có hiệu quả cho miền Bắc các nguồn lực cần thiết để bắt đầu cuộc nổi dậy ở miền Nam. [43] Như vậy, Bắc Việt sẽ thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng, quân giải phóng, vào tháng Mười Hai năm 1960 và giải phóng nhân dân lực lượng vũ trang, PLAF, năm sau vào năm 1961. Cả quân giải phóng và PLAF sẽ được thường được gọi là Việt Cộng, Cộng Sản Việt Nam. [44]

    Một chiến dịch khủng bố và ám sát chống lại chính quyền miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu khi hàng ngàn cán bộ sẽ bị giết hoặc bắt cóc bởi quân nổi dậy Việt Cộng. [45] Hoa Kỳ sẽ không ngồi yên trong thời gian này nhưng đã bắt đầu một chương trình đầy tham vọng về viện trợ quân sự cho chính phủ mong manh của miền Nam Việt Nam. Sân khấu đã được thiết lập, một cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam đó sẽ là, một lần nữa, chiến đấu phần lớn viện trợ quân sự của Trung Quốc.”

    Phần hai:

    “Chiến tranh Đông Dương thứ hai, 1964-75

    Chất xúc tác cho chiến tranh Việt Nam lần thứ hai sẽ là Vịnh sự cố gây tranh cãi của Bắc Bộ vào tháng Tám năm 1964 giữa Hải quân Mỹ và tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt trong vùng biển Trung Quốc. [46] Có lẽ thuyết phục bởi lời của Tổng thống Johnson của rằng cuộc bầu cử năm rằng ông không sẽ mở rộng các cuộc chiến tranh hạn chế ở Việt Nam bằng cách ném bom miền Bắc hoặc “cam kết một nhiều chàng trai tốt của Mỹ để chiến đấu một cuộc chiến tranh mà tôi nghĩ rằng ought để được chiến đấu bởi các chàng trai của châu Á “, miền Bắc tiếp tục các cuộc tấn công của nó. Bây giờ với mục tiêu máy bay nổi bật ở miền Bắc Việt Nam thay đổi mô hình chiến tranh giải phóng. Vụ việc đã báo động cả lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc và gây ra cả hai để di chuyển gần nhau hơn trong việc đáp ứng gia tăng hành động quân sự của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á. Trung Quốc đã bước ngay lập tức để di chuyển lực lượng về phía nam đến biên giới Việt Nam và gửi máy bay phản lực MIG Hà Nội để thúc đẩy defensives của VNDCCH. Có lẽ do một số yếu tố, bao gồm mối quan tâm có thể qua sự can thiệp của Trung Quốc, Hoa Kỳ sẽ dần dần áp dụng một chiến lược cố gắng hạn chế các cuộc chiến tranh ở Việt Nam, hoặc từ từ, chứ không phải áp dụng các lực lượng tối đa có thể tiến tới đánh bại kẻ thù trên chiến trường. [47] Chủ tịch Mao phía bắc vẫn lo ngại về Mỹ, theo ý kiến ​​của mình [48] “kẻ thù dữ dội nhất của người dân trên thế giới.” Vì vậy, khi các nhà lãnh đạo cao cấp của Bắc Việt Nam, bao gồm Tướng Giáp, chính thức yêu cầu quân đội Trung Quốc viện trợ vào tháng Tư năm 1965, phản ứng nhanh chóng và chắc chắn. Chủ tịch Trung Quốc sẽ cho Việt Nam mà người dân Trung Quốc và bên có nghĩa vụ để hỗ trợ cho miền Bắc và do đó “… chúng tôi sẽ làm tốt nhất của chúng tôi cung cấp cho bạn với bất cứ điều gì bạn cần và bất cứ điều gì chúng tôi có”. [49]

    Hỗ trợ yêu cầu và cung cấp

    Sự cần thiết phải trực tiếp nhất là cho pháo chống máy bay, đơn vị để đối phó với sức mạnh không quân áp đảo của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. Ho sẽ yêu cầu các đơn vị AAA Trung Quốc trong một cuộc họp với Mao tháng năm năm 1965 và các lực lượng quân đội Trung Quốc sẽ bắt đầu chảy vào miền Bắc Việt Nam vào tháng Bảy năm 1965 để giúp bảo vệ Thủ đô Hà Nội và mạng lưới giao thông vận tải bao gồm các tuyến đường sắt và cầu. [50] sự di chuyển của quân đội từ Trung Quốc đã không bị mất vào Mỹ như báo cáo trong báo cáo bí mật đặc biệt CIA xác định bảy đơn vị PLA lớn ở miền Bắc Việt Nam bao gồm Sư đoàn 67 AAA, và từ 25.000 đến 45.000 quân chiến đấu của Trung Quốc ước tính tổng số. [51] Các nguồn tin Trung Quốc gần đây chỉ ra rằng điều này PLA AAA Division đã thực sự hoạt động ở khu vực phía Tây của miền Bắc Việt Nam. [52] ngoài AAA lực lượng quân đội Trung Quốc cũng cung cấp tên lửa, pháo binh và hậu cần đường sắt,, kỹ sư và các lực lượng quét của tôi. Các lực lượng này sẽ không chỉ các trang web người đàn ông AAA nhưng cũng sẽ xây dựng và sửa chữa cơ sở hạ tầng Việt Nam bị hư hỏng hoặc bị phá hủy bởi các cuộc không kích của Mỹ. [53] Các đơn vị này sẽ có khá nhiều công việc sửa chữa để làm cho rằng sẽ có hơn một triệu tấn bom máy bay Mỹ trên miền Bắc Việt Nam từ 1965 đến 1972. [54] chiến thứ hai Việt Nam sẽ kéo về trong nhiều năm như là một loại bế tắc hoạt động tồn tại trong bầu trời miền Bắc Việt Nam. Hoa Kỳ có thể và đã ném bom miền Bắc theo ý thích, nhưng những con số tuyệt đối của quân đội Trung Quốc, bao gồm tổng cộng 16 đơn vị AAA phục vụ với một sức mạnh đỉnh cao của 170.000 quân đạt được trong năm 1967, sẽ đảm bảo rằng sẽ được trả một mức giá cao của Mỹ phi công với các mục tiêu thường nhanh chóng xây dựng lại sau khi phá hủy. [55] kỹ thuật và các đơn vị hậu cần Trung Quốc sẽ thực hiện những kỳ công đầy ấn tượng của công trình xây dựng trong suốt thời gian nghỉ ở miền Bắc Việt Nam có hiệu quả các hoạt động mạng lưới giao thông.

    Chiến dịch Hoa Kỳ tại Bắc Việt Nam do đó sẽ được phần nào của một nguyên nhân bị mất, không làm tổn hại đáng kể Bắc cộng sản đủ cho Hồ và lãnh đạo cấp cao để chiêm ngưỡng kết thúc cuộc nổi dậy ở miền Nam Việt Nam. Quân đội Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam cuối cùng sẽ rút, cho hầu hết các phần, cho tới năm 1970 như mối quan hệ Trung-Việt bắt đầu chua trong các cuộc đàm phán hòa bình Paris, và Liên Xô, trong số những thứ khác. Ngoài chiếc ô AAA trên miền Bắc, Trung Quốc cũng sẽ cung cấp các gân của chiến tranh hiện đại mà sẽ cho phép quân đội Bắc Việt Nam để thực hiện hiện đại, hoạt động quy mô lớn tấn công miền Nam Việt Nam trong cả hai năm 1972 và 1975. Xe tải Trung Quốc, xe tăng, bề mặt tên lửa không, máy bay phản lực MIG, khẩu pháo 130mm, súng cối 130mm, và vai bắn tên lửa chống máy bay, tất cả đều di chuyển về phía nam. PAVN có đủ vật liệu lớp học đầu tiên để khởi động một 20 bộ phận cơ Easter Offensive vào năm 1972 vào miền Nam Việt Nam, chia rẽ hơn bao giờ hết chỉ huy của Tướng Patton ở châu Âu trong Thế chiến II, như một sĩ quan Hoa Kỳ sẽ chỉ ra. [56] Bắc Việt sẽ phải trả một giá khủng khiếp cho canh bạc này, nhờ Mỹ lover và tư vấn trên mặt đất, mất một ước tính khoảng 450 xe tăng và hơn 100.000 binh lính chết trận trong cuộc tấn công 1972. [57] Trung Quốc sẽ một lần nữa, làm cho nhiều của các thiết bị PAVN bị mất, sau khi Hiệp ước Hòa bình Paris được ký kết, trong năm 1973 và 1974, cho phép Bắc Việt cho các đơn vị tái thiết cho một cuộc tấn công khác vào năm 1975. Các lực lượng Hoa Kỳ sẽ không có mặt thời gian này để giúp các đồng minh Nam Việt Nam 18 năm được đào tạo tốt và được trang bị bộ phận PAVN lăn đến Sài Gòn vào tháng Tư năm 1975, chấm dứt chiến tranh Việt Nam lần thứ hai. [58] Cả hai cuộc chiến tranh Việt Nam, từ 1946-1975, đã kết thúc trong chiến thắng của miền Bắc Việt Nam chống lại phía tây, nhưng không có số lượng lớn viện trợ quân sự do Trung Quốc cung cấp, rất có thể kết quả sẽ khác. Như với tất cả những gì nếu lịch sử, chúng tôi sẽ không bao giờ biết.

    Phân tích hỗ trợ

    Vậy làm thế nào một trong những phân tích sự hỗ trợ đáng kể quân sự được cung cấp bởi Trung Quốc cho Bắc Việt trong thời gian 25 năm từ 1950-1975, bao gồm cả lần thứ nhất và thứ hai của Việt Nam Wars? Được cung cấp viện trợ quân sự, bao gồm các thiết bị, các cố vấn và hỗ trợ lập kế hoạch, quyết định trong cả hai cuộc xung đột hoặc Bắc Việt đã chiếm ưu thế mà không có sự hỗ trợ này quân đội Trung Quốc? Nhìn lại, có vẻ như rõ ràng rằng Trung Quốc hỗ trợ quân sự cho VNDCCH sẽ là rất quan trọng. Trung Quốc hỗ trợ này sẽ được, trong nhiều khía cạnh, kịp thời, phù hợp và hữu ích mà không làm những công việc mà Bắc Việt cần thiết để làm bản thân mình, đó là, chiến đấu và giành chiến thắng trên mặt đất ở miền Nam Việt Nam. Trung Quốc sẽ không tiến hành một sự can thiệp vào quy mô mà nó được thực hiện tại Hàn Quốc, tránh nhận thức quốc tế hành động trong mối quan hệ nhà nước truyền thống của Trung Quốc / nhánh với Việt Nam, tất cả trong khi cung cấp các công cụ và trợ giúp cần thiết “tip quy mô” trong cả hai xung đột chống lại phương Tây. Cộng hòa Nhân dân sẽ được, có hiệu lực, lớn nhất thế giới không thể chìm tàu ​​sân bay và cơ sở quân đội, một lợi thế chiến lược mà các quốc gia phương Tây hàng ngàn dặm ra khỏi cuộc chiến không thể hy vọng cho phù hợp.

    Là một người viết tiểu sử của Chủ tịch Mao sẽ nhận xét “đã có Trung Quốc như là một phía sau an toàn và kho cung cấp đã làm cho nó có thể cho Việt Nam để chiến đấu trong 25 năm và đánh bại đầu tiên của Pháp và sau đó người Mỹ”. [60]

    Các con số sẽ là đủ ấn tượng, trang thiết bị quân sự, vật tư được cung cấp bởi Trung Quốc. Theo Qiang Zhai, trong khoảng thời gian 1950-54, Trung Quốc sẽ cung cấp đủ vũ khí, 116.000 vũ khí nhỏ và 4630 khẩu pháo, để trang bị cho một số 5 sư đoàn bộ binh, chia một nặng kỹ thuật và pháo binh, một trong những nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy chống máy bay pháo binh trung đoàn và một trong những vệ sĩ trung đoàn. [61] truyền của thiết bị này gần bảy sư đoàn giá trị của quân đội có thể không, và sẽ không được xuất hiện bởi người Pháp. Là một sĩ quan quân đội Mỹ bình luận năm sau “Các chính trị gia Pháp tiếp tục hỗ trợ của họ do dự, thiếu quyết đoán, không mạch lạc, và keo kiệt của các hoạt động quân sự ở Đông Dương, trong khi đòi hỏi” giải pháp quyết định. “[62] Các con số thậm chí còn ấn tượng hơn trong Chiến tranh Việt Nam thứ hai. Trung Quốc hỗ trợ sẽ tăng một yếu tố của 10 vũ khí và trang thiết bị đồng phục cho xe tăng đến các vũ khí nhỏ trên một cơ sở hàng năm lớn hơn toàn bộ viện trợ quân sự được cung cấp vào những năm 1950 đầu những năm chống Pháp. [63] Ngoài ra chống máy bay quân pháo binh Trung Quốc, đạt đỉnh điểm với tổng số 17 đơn vị và 150.000 nam giới vào năm 1967, có thể cho rằng tín dụng để bắn rơi máy bay Mỹ 1707 ở miền Bắc Việt Nam. [64] Những chiến đấu quân đội Trung Quốc, những người không được sử dụng phía nam của các song song 21 ở miền Bắc Việt Nam; tuy nhiên, sự chứng kiến ​​của các đơn vị bảo đảm phía sau của Bắc Triều Tiên, biến đất nước vào các khu vực hầu hết rất nhiều bảo vệ trên thế giới, và cho phép các Bắc Việt sử dụng tài nguyên ở miền Nam Việt Nam và các nơi khác mà có thể đã được dành cho việc bảo vệ quê hương. [65] Trong thực tế Mỹ sẽ không có khả năng để mở một mặt trận thứ hai trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, vì nó đã có thể rất thành công trên Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, do những bộ phận của Trung Quốc.

    Tuy nhiên, chỉ sự hiện diện của Trung Quốc ở phía bắc cũng sẽ là một hằng số “thanh gươm của Damocles” treo trên đầu của phương Tây và các quốc gia miền Nam Việt Nam. Sự gần gũi này cũng sẽ đảm bảo rằng khả năng hiện tại của khổng lồ của Trung Quốc, sự can thiệp đầy đủ quy mô sẽ luôn luôn là một yếu tố phải được xem xét bởi các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự phương Tây. Bất kỳ kế hoạch tham gia cuộc chiến với kẻ thù Bắc Việt Nam trên sân nhà của mình bằng cách đi về phía bắc có thể không được xem xét nghiêm túc đưa ra những lời cảnh báo rõ ràng của Trung Quốc rằng nó sẽ can thiệp với lực lượng ồ ạt. Người Trung Quốc đã bỏ nhiều công sức để giao tiếp này sẵn sàng chiến đấu trên đại diện cho miền Bắc Việt Nam, nếu bị đe dọa nghiêm trọng, Hoa Kỳ, truyền thông cảnh báo thông qua các kênh khác nhau bao gồm các cuộc đàm phán đại sứ tại Ba Lan, các nhà lãnh đạo của bên thứ ba như Chủ tịch Pakistan và Tanzania và Đại sứ Anh ở Bắc Kinh. [66] Trong một số khía cạnh cam kết hỗ trợ này chỉ có giá trị như xe tăng, xe tải và súng do Trung Quốc cung cấp.

    Kết luận

    “Tại sao người Mỹ không làm rùm beng về thực tế là hơn 100.000 binh lính Trung Quốc giúp bạn xây dựng các tuyến đường sắt, đường bộ và sân bay mặc dù họ biết về nó?” [67]
    – Chủ tịch Mao để Thủ tướng Việt Nam Đồng, 1970

    Trong kết luận, như chúng ta có thể nhìn thấy từ các tài liệu lịch sử đáng kể nêu trên, trợ giúp quân sự cung cấp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, bao gồm tư vấn, thiết bị và lực lượng chiến đấu, được các yếu tố quyết định cho các Cộng Dân chủ Cộng hòa của Việt Nam hiện hành trong 1949 – năm 1975 trong cả hai lần thứ nhất và thứ hai của Việt Nam Wars. Cánh tay nhỏ, súng cối, đạn dược, đồng phục, xe tăng, pháo binh, radar, súng chống máy bay, máy bay phản lực, xe tải, và các tàu hải quân quan trọng trong cuộc đấu tranh của Bắc Việt. Tuy nhiên, những gì đã được thậm chí nhiều hơn nữa quan trọng và thường không thừa nhận trong các danh sách giặt của vật liệu chiến tranh là các lợi thế tâm lý và chiến lược cung cấp cam kết Cộng sản Trung Quốc để can thiệp trong sự xuất hiện của một cuộc xâm lược Hoa Kỳ của miền Bắc Việt Nam, và giao tiếp hợp đồng cầm cố sang Mỹ lợi thế chiến lược này có hiệu lực không thể được phóng đại.

    Như cựu Tổng Westmoreland của G-2, hoặc Intelligence Officer sẽ viết sau khi các Wars Việt Nam “Với một Trung Quốc thân thiện, nằm tiếp giáp với miền Bắc Việt Nam sẽ có được rất ít cơ hội cho một chiến thắng Việt chống Pháp, và sau đó chống lại những người Mỹ và Nam Việt Nam “[68]. Nó là khá mỉa mai rằng hầu hết các nhà sử học chuyên nghiệp có xu hướng để giảm nhẹ hoặc bỏ qua vai trò quyết định trong chiến thắng của miền Bắc Việt Nam của Trung Quốc trong khi các cộng đồng quân sự và tình báo, ít nhất, sẵn sàng thừa nhận thực tế này nhiều hơn nữa. Có lẽ điều này là dễ hiểu vì nếu thừa nhận vai trò của Trung Quốc nó gọi vào câu hỏi như vậy Việt Nam huyền thoại là “du kích kém vũ trang” và “thiên tài quân sự” của tướng Giáp, trong số các vấn đề khác. Các nhà sử học như Xiaoming Zhang và Qiang Zhai đang thách thức mô hình lịch sử Việt Nam được chấp nhận và trong khi làm điều đó đang thực hiện một dịch vụ tuyệt vời.

    “Vì vậy, việc thực hiện cao nhất của chiến tranh là để tấn công kẻ thù kế hoạch,” theo nhà lý luận quân sự học Sun-Tử trong nghệ thuật của chiến tranh. [69] Trong khía cạnh này là chính xác những gì Bắc Việt, và Trung Quốc đã làm trong cả hai cuộc chiến tranh Việt Nam: họ tấn công thành công các quyền hạn kế hoạch chiến tranh phương Tây. Sự hỗ trợ đáng kể cho VNDCCH của Trung Quốc, bao gồm một lời hứa can thiệp với số lượng lớn của quân đội trong trường hợp của một cuộc xâm lược của miền Bắc Việt Nam, có hiệu quả loại bỏ quá trình hành động này, và có lẽ những người khác, như tiềm năng lựa chọn chiến thắng cuộc chiến tranh với phương Tây . Như vậy, với sự hỗ trợ của Trung Quốc, về mặt kĩ chiến tranh chiến lược của VNDCCH đã có thể duy trì khi các cuộc tấn công trong suốt cuộc chiến, duy trì thế chủ động và cuối cùng đã đạt được chiến thắng khi Sài Gòn sụp đổ vào tháng Tư năm 1975.”

Phản hồi