|

Hậu họa “giải pháp đỏ” của Nguyễn Văn Linh

Hội nghị Thành Đô, 2-9- 1990

Hội nghị Thành Đô, 2-9- 1990

Ông Võ Trần Chí, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nói Nguyễn Văn Linh là người “Lội ngược dòng  lịch sử !”. Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng bản thân mình từng “Lên bờ xuống ruộng!”. Nguyễn Văn Linh còn là người “bước lỡ nhịp” và tên tuổi ông được gắn với một khái niệm đầy tai tiếng là  “Giải pháp đỏ”.

Trong tiểu sử Nguyễn Văn Linh, ghi tên thật của ông là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1-7-1915, tại xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ngày 1-5-1930, ông bị thực dân Pháp kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo.

Hình như có sự nhầm lẫn năm sinh, hoặc năm ông bị bắt đi tù, bởi điều luật của nước Pháp không xử tù tuổi vị thành niên. Ví dụ ông Nguyễn Hữu Đang, sinh năm 1913, hoạt động trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, bị bắt 1930. Năm 1931, khi ra tòa đã 17 tuổi, vẫn được tha bổng vì còn vị thành niên. Nguyễn Văn Linh khi ra tòa mới 14 tuổi 10 tháng, mà bị xử tù chung thân thì vô lý?

Trong tiểu sử cùa Nguyễn Văn Linh, không ghi ông học ở trường nào, trình độ văn hóa ra sao, hầu như cả cuộc đời ông dấn thân hoạt động cách mạng, vào tù ra tội, gắn bó với phong trào quần chúng, ở những nơi ác liệt.

Từ năm 1957 đến năm 1960, Nguyễn Văn Linh đã từng làm Bí  thư đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương, làm Bí thư (1961-1964), rồi Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hình như từ những năm tháng đó,  Nguyễn Văn Linh đã “lên bờ xuống ruộng” rồi.

Ngày  10-4-1975, tại Trung ương cục miền Nam, Lê Đức Thọ, từ Hà Nội vào công bố quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, trao quyết định Bí thư đặc khu Sài Gòn-Gia Định cho Võ Văn Kiệt, Mai Chí  Thọ lảm Phó bí thư. Nguyễn Văn Linh không còn là Phó bí thư nữa, mà chỉ phụ trách mảng phong trào nổi dậy.

Cũng như các lần thay đổi trước, tổ chức không nêu ra lý do, và Nguyễn Văn Linh cũng không băn khoăn, ông chấp hành sự phân công một cách bình thản. Ông Võ Văn Kiệt và Võ Trần Chí cho rằng, đó là một trong những phẩm chất đặc biệt của Nguyễn Văn Linh.

Ông Lê Duẩn cho rằng Nguyễn Văn Linh quá nhẹ tay trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhẽ ra  phải xóa bỏ triệt để tư sản lại kêu gọi họ tự cải tạo, hòa nhập vào xã hội mới, đem tài lực góp phần xây dựng đất nước. Có lần Nguyễn Văn Linh nói với tôi và Đình Khuyến, Trưởng cơ quan Thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: “Anh Ba, cũng như chúng tôi đã từng được những nhà tư sản Sài Gòn cưu mang trong thời kỳ hoạt động bí mật, bây giờ biến họ thành nạn nhân sao đành!”.

Ý thức “đền ơn đáp nghĩa” của Nguyễn Văn Linh bị Đỗ Mười cho là hữu khuynh, không “không Bôn – sê – vích”.  Đã sảy ra những  cuộc  tranh luận căng thẳng giữa Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười. Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt bảo vệ quan điểm cải tạo từng bước, phân biệt đối tượng cụ thể, tận dụng kinh nghiệm thương trường cùa giới công thương chế độ cũ, đặc biệt đối với những người có công với cách mạng để xây dựng và phát triển thành phố.  Đỗ Mười  bảo vệ quan điểm của Lê Duẩn, phải xóa sạch tư sản. Kết quả, đầu năm 1978, Nguyễn Văn Linh mất chức Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Cũng trong thời gian đó, có người bới lại chuyện Nguyễn Văn Linh sang Campuchia tháng 6-1975, đi suốt 200 km, qua ba 3 tỉnh mà không phát hiện ra những thay đổi bất thường của Khmer đỏ, để  sảy ra những biến cố bất ngờ!

Đó là thời kỳ bĩ cực nhất của Nguyễn Văn Linh.

Ông đã xin rút ra khỏi Bộ chính trị vào cuối nhiệm kỳ.

Vốn là người hết sức trầm tĩnh, kín đáo, nhưng Nguyễn Văn Linh đã  tâm sự với Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên xin rút!”.

Đỗ Mười mang tinh thần “Bôn – sê – vích” và  “bàn tay sắt” vào miền Nam đánh tư sản. Ông ta thực hiện y trang  như những gì mình từng làm ở Hải Phòng năm 1955, Hà Nội 1960, xóa sạch tàn dư tư bản chủ nghĩa, đề  xây đựng nền kinh tế xã hội, với tham vọng 15 năm sau theo kịp Nhật Bản, như Tổng bí thư Lê Duẩn tuyên bố ngày 2-7-1976, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI.

Thực tế ngược lại hoàn toàn với tham vọng ngông cuống và siêu thực đó. Sau cải tạo thành phố Hồ Chí Minh  kiệt quệ, các nhà máy xí nghiệp không có nguyên liệu sản xuất phải đóng cửa, hàng triệu công nhân thất nghiệp, hệ thống giao thông vận tải ngưng trệ, lưu thông phâm phối tắc nghẽn, chợ búa gần như ngừng hoạt động, đời sống của cán bộ nhân dân cùng cực. Tài liệu chính của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lúc đó công bố “Kế hoạch năm năm không đạt, tăng trưởng âm, lạm phát phi mã, gần ba triệu dân thành phố thiếu đói”.

Đỗ Mười đã đẩy Sài Gòn “tiến” kịp Hà Nội, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Hòn than bùn xó bếp” như cách nói cùa nhà báo Ba Dân lúc đó. Thật mỉa mai khi các nhà khoa học nổi tiếng như Chu Phạm Ngọc Sơn, Châu Tâm Luân, được động viên nghiên cứu những công trình khoa học như “Bo bo giàu dinh dưỡng hơn gạo”,  “Khoai lang bổ hơn bột mì”, “Thành phần đạm trong rau muống”…

Trước kia Hà Nội có thơ  “Gia công gai quy, lộn cổ sơ mi, bơm ruột bút bi, vá ni lon rách”, bây giờ Sài Gòn cũng nổi tiếng không kém với  “Nuôi lợn trên gác, phục hồi bu gi, gia công cán mì, tái chế dép xốp!”.

Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức Trưởng ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Trước Đại hội Đảng lần thứ V,  Nguyễn Văn Linh xin rút ra khỏi Bộ Chính trị, trở lại làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (1981), thay ông Võ Văn Kiệt ra Trung ương. Về sau, ông giải thích với ông Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên mình xin rút” …. Ông trở thành một nhân vật quan trọng trong lịch sử của thành phố này.

Phải nói, nếu hơn mười năm trước Kim Ngọc,  Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã dũng cảm tìm lối thoát cho nông dân bằng biện pháp “khoán chui”, thì những năm đầu thập niên 80 TK 20, Nguyễn Văn Linh đã cứu công nhân và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bằng  “xé rào” thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp.

Nguyễn Văn Linh đã tập hợp chung quanh mình một đội ngũ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có khả năng móc nối với tư bản nước ngoài để phá thế bị bao vây cô lập. Những công ty Cholimex, Dereximco, Imexco lần lượt ra đời, trực tiếp làm ăn với một số công ty Hồng Kong, Đài Loan, như Globai, Thai Hing Long, nhập khẩu sợi dêt, xăng dầu, thuốc lá, men bia, xuất khẩu đậu phộng, vừng, tôm khô, mực khô. Thực hiện việc trao đổi hàng hóa, khoán sản phẩm, mua nguyên liệu bán sản phẩm v,v.

Nhờ việc xé rào này, 20.000 công nhân ngành dệt có việc làm, ngành giao thông vận tải có xăng dầu hoạt động, và bộ mặt Sài Gòn khởi sắc trở lại.

Cũng như “khoán chui” của Kim Ngọc, việc “xé rào” cùa Nguyễn Văn Linh lọt tới “thiên đình” và cuồng phong nổi lên,  bắt đầu bằng cuộc ra quân của Bộ Tài chính.

Ngày 12- 3- 1982, đoàn thanh tra 28 thành viên từ Hà Nội hùng hổ tiến vào Công ty Direximco, tuyên bố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Hơn ba tháng liên tục, moi móc hết 50 mặt hàng và  đến từng đơn vị làm ăn với Dereximco, kiểm tra từng tờ hóa đơn. Ngày 25-6- 1983, Đoàn thanh tra kết luận việc xé rào của thành phố Hồ Chí  Minh vi phạm nghiêm trọng chủ trương đường lối của đàng, chính phủ, chỉ có  1 công  nhưng 7 tội, cần phải xử lý nghiêm khắc. Ông Đỗ Mười  lên tiếng: “Làm bí thư Thành ủy mà để xảy ra như thế sao không từ chức!”.

May cho Nguyễn Văn Linh, lần này Lê Duẩn không vội nghe theo Đỗ Mười.

Tháng 3-1983, khi Lê Duẩn sang Liên Xô chữa bệnh, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công vào Đà Lạt nghỉ mát. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ và các lãnh đạo chủ chốt của thành phố Hồ Chí Minh  khéo léo tổ chức “Hội nghị Đà Lạt” thành công.

Nguyễn Văn Linh bố trí một số giám đốc nhà máy, xí nghiệp làm ăn được nhờ xé rào như Nguyễn Thị Đồng, nhà máy đệt Thành Công, Bùi Văn Long, Tổng công ty dệt may, Nguyễn Văn Thụy, Công ty thuốc lá, lên Đà Lạt trực tiếp gặp ba nhà lãnh đạo đảng, nhà nước.

Tôi còn nhớ  buổi sáng hôm ấy ở khách sạn Palass, ông Nguyễn Văn Linh nói với bà Nguyễn Thị  Đồng và  Bùi Văn Long: “Phải khéo léo thuyết phục các anh! Mời bằng được anh Năm xuống thăm cơ sở thì mới thấy hết cái việc mình làm!”.

Bà Nguyễn Thị Đồng với giọng nói rổn rảng,  không biết ngán ai bao giờ, bởi gia đình bà có tới hơn 10 người là bộ đội, thương binh, liệt sỹ.  Bà nói với ông Trường Chinh: “Anh hãy xuống nhà máy gặp công nhân, người ta vừa mới sống lại đấy. Rồi anh để họ sống thì để bóp chết thì bóp!?

Trước thái độ cương trực của bà Đồng, ông Trường Chinh đã phải mỉm cười gật đầu, thực hiện một chuyến đi thực tế ý nghĩa nhất, và đó là tiền đề cho sự thay đổi tư duy, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường của ông.

 

Đại hội đảng toàn quốc lần VI, với bài diễn văn đúc kết từ thực tế  “xé rào” ở thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh đã nhận được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số đại biểu, ông trở thành Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam. Có lẽ đây là một trường hợp hãn hữu, một người được bầu làm Tổng bí thư của đảng, nhận được sự đồng thuận của dân.

Sau đại hội đảng VI, Nguyễn Văn Linh đã tiến hành nhiều cải cách quan trong. Ông chọn  khâu  lưu thông phân phối làm đột phá khẩu  đổi mới.  Ông nói: “Giải quyết  vấn đề phân phối lưu thông vì nó là cái gốc liên quan đến quá trình sản xuất, tới  tổng thề  cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân”.

Những chính sách nổi bật trong thời kỳ này là: Tách tài chính ra khỏi ngân hàng. Lập kho bạc nhà nước. Bơm tiền lưu thông. Xóa bỏ ngăn sông cấm chợ. Lấy khoán 100 làm cơ sở khoán 10, giao quyền tự chủ cho nông dân.

Chỉ trong một thời gian ngắn đã kéo lạm phát từ 240% xuống 61%. Từ chỗ cả nước không đạt 21 triệu tấn lương thực, phải nhập mỗi năm 500.000 tấn lương thực, năm 1989 đã dư 1 triệu tấn gạo.

Về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh muốn phá thế bao vây của các nước phương Tây và Trung Quốc. Tại hội nghị Bộ chính trị ngày 20 -5 -1988, đã ra Nghị quyết 13 về điều chỉnh đường lối đối ngoại, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, giữ môi trường hòa bình, phát triển kinh tế. Trả lời phòng vấn trên tờ Thời báo New Yok, Nguyễn Văn Linh nói về mối quan hệ với Mỹ: “Việt Nam luôn luôn muốn có quan hệ với nhân dân và chính phủ Mỹ. Chiến tranh kết thúc 15 năm rồi mà chưa có quan hệ bình thường là quá chậm. Việt Nam sẵn sàng giải quyết mọi trở ngại trên con đường bình thường hóa quan hệ với Mỹ”.

Ngoài việc đổi mới về kinh tế, và đổi mới về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh còn đổi mới về văn hóa xã hội, dân sinh, dân chủ. Chủ trương cởi trói cho văn nghệ sĩ nói riêng, trí thức nói chung, ông  đã  vén  bức màn đen tối, minh oan cho những nạn nhân bị oan ức, đọa đày trong vụ “Nhân văn giai phẩm” và đã khích lệ giới cầm bút viết những tác phẩm chân thực.

Ngày 25- 5-1987, Nguyễn Văn Linh  cho ra đời mục “Những việc cần làm ngay” trên báo Nhân dân, từ đó những bài viết của ông ký bút danh NVL liên tục xuất hiện trên mặt báo. Ông nói: “Chống tiêu cực là đã thành nhiệm vụ quan trọng, dọn đường cho việc thực hiện Nghị quyết đại hội VI, và các Nghị quyết của đảng, nhằm đưa nước nhà ra khỏi khó khăn đến ổn định tình hình mọi mặt, làm dân bớt khổ”. Ông yêu cầu: “Nhà báo phải có tấm lòng cương trực, yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi, ghét kẻ làm xấu để lên án”. Nguyễn Văn Linh xác định lấy báo chí làm vũ khí, nhà báo là lực lượng nòng cốt chống tiêu cực tham những. Ông nói đánh giặc ngoại xâm chủ yếu bằng súng đạn, đánh giặc nội xâm phải dùng vũ khí ngôn luận.  Báo chí  là sức mạnh, là thứ  bọn tiêu cực sợ nhất!”, Nguyễn Văn Linh chỉ thị tất cà các cơ quan đảng, chính quyền phải trả lời chất vấn cùa báo chí, phải xử  thật nghiêm những trường hợp tham nhũng, ăn hối lộ, ức hiếp dân mà báo chí đã nêu. Nhiều vụ án tưởng đã chìm vào quên lãng đã được đưa ra xét xử.

Ông thường xuyên gặp gỡ anh em làm báo, ngoài hành lang các hội nghị, hoặc kêu tới nhà ông uống cà phê, ăn sáng nói chuyện. Ông không phân biệt báo lớn, báo nhỏ, báo đảng báo đoàn thể, nhưng rất coi trọng những nhà báo viết bài trung thực, có sức lan tỏa. Khi gặp  chúng tôi, ông thường hỏi: “Dân đang nghĩ gì, đang làm gì, và cần gì?”. Khi chúng tôi nói cho ông nghe những bức xúc của dân ông hỏi: “Nếu dân nghĩ vậy thì mình làm sao?”.

Nguyễn Văn Linh tỏ thái độ đồng tình với Trần Xuân Bách về cơ chế dân chủ và đổi mới chính trị. Có lần ông nói với anh em báo chí: “Anh Trần Xuân Bách nói rất đúng. Dân chủ  không phải là ban ơn, là mở rộng dân chủ, mà đó là quyền của dân với tư cách người làm chủ lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Dân chủ là khởi động trí tuệ dân để tháo gỡ khó khăn đưa đất nước theo kịp thời đại!” .

Nửa đầu của nhiệm kỳ Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh là một con người như vậy. Đất nước đổi mới từng ngày, nhà cừa mọc lên khang trang, nụ cười xuất hiện trên môi người, Việt kiều về quê rất đông, và hầu như không có những vụ khiếu kiện tập thể…Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam xóa quan liêu bao cấp, thực hiện đổi mới và mở rộng quan hệ đối ngoại, nhất là với Mỹ và phương Tây, đã làm Trung Quốc rất khó chịu, tìm cách phá ngang.

Gần cuối nhiệm kỳ, Nguyễn Văn Linh bị Trung Quốc cài bẫy. Trong bài  này, sự tác động do Liên Xô, Đông Âu sụp đổ và vai trò của Đỗ Mười thế nào chưa bàn đến. Nhưng đó là nguyên nhân chính đã làm cho Nguyễn Văn Linh thay đổi hẳn quan điểm, dẫn tới dân-nước và bạn bè quốc tế bị bất ngờ và thất vọng.

Có thể nói cái mốc ấy bắt đầu từ Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc từ 3 đến 5-1990 đến bây giờ, dù những người tư liệu còn hạn chế, nhưng nhìn lại một cách khách quan, vẫn vừa tiếc, vừa buồn, vừa trách Nguyễn Văn Linh.

Theo ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 29-8-1990, đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy, gặp Nguyễn Văn Linh ở Hà Nội, chuyển thông điệp của Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc,  và Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng sang Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) ngày 30-8-1990 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hòa quan hệ hai nước.

Trương Đức Duy nói mập mờ rằng, Đặng Tiểu Bình có thể gặp Phạm Văn Đồng, và lấy cớ Bắc Kinh đang tổ chức Á vận hội ASIAD, sợ lộ bí mật nên phải gặp nhau ở Thành Đô.

Đây là chuyện rất đột ngột, bởi mới 5 ngày trước, Trung Quốc khăng khăng không muốn bàn chuyện bình thường hóa, mà đòi phải giải quyết vấn đề Campuchia trước, tại sao bây giờ họ lại  bàn vấn đề bình thường hóa?

Ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao nhận định: Sự thay đổi đột ngột của Trung Quốc là do họ cần thực hiện 4 hiện đại hóa, nhưng bị Mỹ, Nhật, Liên Xô và các nước cấm vận sau vụ đàn áp Thiên An Môn, nên phải tìm cách thoát ra.

Bên cạnh đó, Trung Quốc thấy Mỹ, Nhật, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với  Việt Nam, nên muốn phá ta.

Quan điểm của Nguyễn Văn Linh lại khác.

Ông triệu tập họp Bộ chính trị và nếu ý kiến: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa” (!?).

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đặc biệt là Rumani mà Nguyễn Văn Linh vừa thăm đã tác động rất lớn tới ông, lảm cho ông mất bình tĩnh.

Mặc dù Nguyễn Cơ Thạch,  Võ Chí Công, Trần Xuân Bách can ngăn, nhưng Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Hợp tác với Trung Quốc, bảo vệ XHCN chống đế quốc!”. Quan điểm của Nguyễn Văn Linh được Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng… ủng hộ.

Và thế là, ngày 2-9-1990, dù đang kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 45 năm, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng vẫn đi Thành Đô, với sự tháp tùng của Hồng Hà, Chánh văn phòng Trung ương đảng và Hoàng Bích Sơn, Thứ trưởng ngoại giao. Nguyễn Văn Linh không cho Nguyễn Cơ Thạch đi, vì Nguyễn Cơ Thạch không đồng quan điểm, Trung Quốc không thích Nguyễn Cơ Thạch.

Theo Trần Quang Cơ, Trung Quốc đã đánh lửa Việt Nam một cách trắng trợn. Họ nói Đặng Tiểu  Bình sẽ  gặp Phạm Văn Đồng nhưng Đặng không xuất hiện. Ông Võ Văn Kiệt nói: “Nhẽ ra anh Tô không nên đi!”. Mà Đặng Tiểu Bình là gì mà chính Phạm Văn Đồng cũng muốn gặp để rồi bị dính chùm trong vụ tham dự Hội nghị Thành Đô? Tù đó Trung Quốc thêm vinh danh và đạt được ý đồ thâm hiểm lâu dài là kìm hãm, phá ngang đường lối đổi mới và kéo Việt Nam đi theo quỹ đạo của Trung Quốc. Cũng từ quan điểm đưa ra đầy thỏa hiệp Trung-Việt này mà cái ‘bào thai’ đẻ ra con ngáo ộp “Diễn biến hòa bình” và sau này củ cà rốt đỏ chót “16 chữ vàng”, “4 tốt”  trở thành “khẩu hiệu hành động, khẩu khí ngoại giao” rất mất lòng dân của lãnh đạo Việt Nam…

Vấn đề Campuchia, Trung Quốc vẫn giữ thái độ như  ngày 24-8-1990, đòi cấu trúc thành phần chính phủ hòa hợp dân tộc Campuchia theo công thức: 6 +2+2+2+1 (6 người phe chính phủ Hun sen , 2 người phe Khmer đỏ, 2 người phe Hoàng gia, 2 người phe đảng dân chủ, và Siha Nouk). Điều này hoàn toàn trái với công thức: 6 +2 +2 +2 mà Hun Sen và Siha Nouk đã thỏa thuận tại Tokyo.

Ông Trần Quang Cơ  viết: “Hội nghị Thành Đô có 8 điểm, hai điểm về quốc tế, 5 điểm về Campuchia, chỉ có một điểm về Việt Nam. Nguyễn Văn Linh nêu ‘Giải pháp Đỏ’, Trung Quốc hoan nghênh nhưng không mặn mà !”.

Cái gọi là “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh là “Kéo Trung Quốc lại, thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa!”. Nguyễn Văn Linh mê muội phe chủ nghĩa xã hội, tìm mọi cách bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, quên quyền lợi và danh dự của dân tộc mình và  làm mất niềm tin của bạn bè !

Khi Trung Quốc đưa công thức 6+2+2+2+2+1 ra, ông Phạm Văn Đồng nhắc Nguyễn Văn Linh thận trọng. Phía Trung Quốc liền mời Phạm Văn Đồng ra chỗ khác để Nguyễn Văn Linh ký. Ông Phạm Văn Đồng đã thấy nguy, nhắc Nguyễn Văn Linh sửa sai, nhưng Nguyễn Văn Linh nói: “Không sao đâu!”.

 

Từ Thành Đô về, Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh sang Campuchia gặp Hengsomrin và Hunsen trao đổi về Hội nghị Thành Đô. Nhưng Campuchia không chấp nhận công thức ấy và nói thẳng Việt Nam, Trung Quốc không có quyền can thiệp vào Campuchia. Xương máu cùa hàng  ngàn  cán bộ chiến sĩ quân đội ta đổ  trên chiến trường Campuchia đã bị  Nguyễn Văn Linh bán rẻ cho Trung Quốc!

Trung Quốc nói giữ bí mật Hội nghị Thành Đô nhưng chính họ thông báo cho thế giới biết toàn bộ nội dung cuộc “họp bí mật” đó. Tờ Bangkok Post và tờ Tạp chí kinh tế Viễn Đông, ngày 4-10-1990, đăng bài bình luận “Củ cà rốt và chiếc gậy” nói Việt Nam đã nhượng bộ nhiều hơn làm vừa lòng Trung Quốc.

Nguyễn Văn Linh đã thất bại trong sách lược “Giải pháp Đỏ”, bị Trung Quốc tách ra khỏi các mối quan hệ với phương Tây với nhiều mở hướng tốt đẹp cho sự nghiệp đổi mới, chỉ vì nghe Trung Quốc xúi cho bùi tai là làm thành trì bảo vệ Xã hội chủ nghĩa. Nói đúng hơn Nguyễn Văn Linh đã bị Trung Quốc lừa một vố đau.

Theo ông Trần Quang Cơ: “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “Giải pháp Đỏ”.

Ông Nguyễn Cơ Thạch nói: “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bộ ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta!”

Phạm Văn Đồng tỏ ra ân hận vì không ngăn được Nguyễn Văn Linh ký thỏa thuận Thành Đô. Nguyễn Văn Linh tránh trớ: “Anh Tô nhớ lại xem! Không phài tôi đồng ý. Tôi chỉ nói nghiên cứu xem xét và bây giờ tôi vẫn nghĩ thế là đúng”.

Cái gọi là “đúng” của Nguyễn Văn Linh là từ luận điểm câu nhử, đe dọa của Trung Quốc: “Âm mưu đế quốc Mỹ chống phá xã hội chủ nghĩa ở châu Á, cả Cu Ba. Nó đã phá Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta!”. Và, không hiểu Trung Quốc làm cách nào mà nó như thứ bùa mê thuốc lú để Nguyễn Văn Linh lý giải: “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa!”.

Từ Hội nghị Thành Đô trở về hình như Nguyễn Văn Linh là một con người khác. Ngày 28-8-1990, tuyên bố chấm dứt “Những việc cần làm ngay”. Ông nói “Bận quá! Vả lại tôi viết để “mồi” cho các nhà báo viết tiếp để đấu tranh kiên quyết liên tục!”. Ông còn viết: Không nên đi xe ngoại, rằng: “Ta về ta tắm ao ta”…

Đó là một lời nói dối, bởi sợi dây trói vừa được cởi ra trong khoảng thời gian 3 năm 4 tháng đã bị thít lại chặt hơn, và chính ông là người đầu tiên đã liên kết với Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Đỗ Mười đánh dập vùi Trần Xuân Bách, một người được coi lả có trí tuệ nhất trong Bộ chính trị lúc đó.

Nguyễn Văn Linh đã đưa Việt Nam tiến lên một bước, nhưng rồi chính ông lại kéo Việt Nam lùi lại, ông mở cái cửa nhỏ thoát ra khỏi một ngõ cụt nhưng rồi chính ông lại đóng sập cánh cửa ra biển lớn của dân tộc vì ý thức bảo thủ và giáo điều cùa ông !

Nguyễn Văn Linh đã tự lội xuống ruộng, đúng hơn tự dìm mình vào vũng bùn Thành Đô, và để mất sự kính trọng nhẽ ra ông được hưởng.

© Minh Diện

Nguồn: bvbong.blogspot.com

11 Phản hồi cho “Hậu họa “giải pháp đỏ” của Nguyễn Văn Linh”

  1. Phan Sơn says:

    CẢI CHÍNH BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ MINH DIỆN VỀ “HẬU HỌA “GIẢI PHÁP ĐỎ” CỦA NGUYỄN VĂN LINH”

    Đọc bài viết của MINH DIỆN về “hậu họa “Giải pháp đỏ” của Nguyễn Văn Linh”, thấy có nhiều chi tiết sai hoặc bản thân tác giả chưa rõ về tiểu sử Nguyễn Văn Linh, xin được trao đổi lại. Bài viết chỉ trao đổi về những điều tác giả viết không đúng, chứ không viết lại toàn bộ tiểu sử Nguyễn Văn Linh.
    Không phải tiểu sử Nguyễn Văn Linh không ghi ông học ở trưởng nào như tác giả viết. Sự thật là: Nguyễn Văn Linh, quen gọi là Nguyễn Văn Cúc sinh ngày 1-7-1915 (theo bà Ngô Thị Huệ, Nguyễn Văn Linh sinh năm 1914, vì đi học muôn nên khai giảm đi một tuổi). Nguyễn Văn Cúc được chú ruột Nguyễn Đức Thụ gửi vào học Trường Bonnan (Trường Pháp-Việt) ở Hải Phòng năm 1925-1926. Năm 14 tuổi, Nguyễn Văn Cúc học lớp Nhì và tham gia vào Học sinh đoàn. Năm học 1929-1930, Nguyễn Văn Cúc lên lớp Nhất và chuyển về học ở Trưởng Giăng Đuypuy (Jean Dupuis), gần Bến Bính. Trong quá trình học tập, Nguyễn Văn Cúc tham gia tích cực vào các hoạt động yêu nước và cách mạng. Vì tham gia cuộc đấu tranh ngày 1-5-1930, Nguyễn Văn Cúc bị bắt, bị kết án 18 tháng tù, đưa về giam tại Khám lớn Hải Phòng.
    Về sự kiện Hội nghị Thành Đô, tác giả có sự nhầm lẫn về thời gian và viết bình luận theo những tư liệu không chính thống. Tác giả viết, ngày 2-9-1991, dù đang kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 45, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng vẫn đi Thành Đô. Đúng ra là trong hai ngày 3 và 4-9-1990, tại Khách sạn Kim Ngưu ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, đã diễn ra cuộc gặp gỡ bí mật giữa lãnh đạo cao cấp của hai nước. Các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, cố vấn Phạm Văn Đồng và các đồng chí Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Bằng đã gặp nhau.
    Nói đến Hội nghị Thành Đô là nói đến vấn đề Campuchia và quan hệ Việt-Trung, và rộng hơn, xa hơn là vấn đề khu vực và thế giới. Vì vậy, phải trở lại lịch sử và phải thấy đây là vấn đề lớn, liên quan đến chủ trương của Bộ Chính trị, của Trung ương Đảng, chứ không phải chỉ là công việc của cá nhân đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.
    Bước vào thập niên tám mươi, kẻ thù ra sức bao vây, cấm vận; rêu rao “Việt Nam xâm lược Campuchia” để cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Trước tình hình đó, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương điều chỉnh chính sách đối ngoại nhằm giảm bớt căng thẳng với các nước trong khu vực và các nước láng giềng, nhằm tạo dựng một không gian hòa bình thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Ngày 20-5-1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết 13 điều chỉnh đường lối đối ngoại, tập trung giữ vững môi trường hòa bình và phát triển kinh tế. Ba ưu tiên hàng đầu về đối ngoại được Bộ Chính trị và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh lựa chọn là: rút quân khỏi Campuchia, bình thường hóa quan hệ Việt-Trung, cải thiện đi tới bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
    Đảng ta chủ trương Việt Nam sẽ rút quân ra khỏi Campuchia, vì lực lượng của bạn đã đủ mạnh, có thể tự chủ quyết định lấy công việc của mình. Sau khi Đảng ta thống nhất chủ trương và phương án giải quyết vấn đề rút quân khỏi Campuchia, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã trực tiếp sang Campuchia cùng bàn bạc, thống nhất quan điểm với bạn về phương án thực hiện. Ngày 6-1-1989, tại buổi lễ kỷ niệm lần thứ 10 Quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân Campuchia, đồng chí Nguyễn Văn Linh tuyên bố Việt Nam sẽ rút hết quân khỏi Campuchia vào tháng 9-1989 sớm hơn dự định một năm, nếu có giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia.
    Để thúc đẩy Trung Quốc đi vào đàm phán giải quyết vấn đề Campuchia, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã qua Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào Cayxỏn Phômvihản gửi thông điệp miệng đến nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình. Ngày 18-01-1989, Việt Nam và Trung Quốc gặp nhau ở cấp Thứ trưởng ngoại giao về vấn đề Campuchia. Ngày 05-4-1989, Việt Nam tuyên bố sẽ rút hết quân khỏi Campuchia, dù có giải pháp chính trị hay không. Sau đó, ngày 30-7-1989, Hội nghị Quốc tế về Campuchia đã bắt đầu họp tại Pari. Con bài “Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia” của đối phương đã hoàn toàn bị ta vô hiệu hóa, nó cũng mở đường cho việc xóa bỏ cấm vận của Mỹ, tiến tới bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Các nước phương Tây và ASEAN đã vượt qua lệnh cấm vận của Mỹ, bắt đầu làm ăn với Việt Nam. Đó là một thắng lợi ngoại giao rất quan trọng của nước ta.
    Cũng trong năm 1989, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cùng Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã từ phân tích đặc điểm của cuộc chiến tranh hiện đại, xem xét mối quan hệ Việt-Trung trong diễn biến mới của quan hệ quốc tế, đã đưa ra chủ trương rút quân khỏi khu vực biên giới Việt-Trung. Quyết định này vừa để giảm bớt chi phí quân sự ở biên giới phía Bắc, vừa để mở đường cho việc khôi phục lại quan hệ bình thường Việt-Trung.
    Từ đó dẫn đến Hội nghị Thành Đô.
    Vì vậy, có thể nói, cuộc hội đàm cấp cao Việt-Trung tại Thành Đô là thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, tinh thần trách nhiệm cao trước lịch sử của các nhà lãnh đạo hai đảng, hai nước; xuất phát từ nguyện vọng tha thiết của nhân dân hai nước, vượt qua mọi mặc cảm, nhanh chóng đi đến quyết định giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ Việt-Trung.
    Để phá vỡ thế bị bao vây cô lập của ta, trong tình hình quốc tế còn đang diễn biến phức tạp, khó lường, đồng chí Nguyễn Văn Linh chấp nhận những nhượng bộ nhất định để đạt hai mục tiêu: giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ Việt-Trung. Nó cũng phản ánh bản lĩnh quyết đoán, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và trước dân, mở ra chương mới trong quan hệ giữa hai nước.
    Việc bình thường hóa quan hệ Việt-Trung không những đáp ứng lợi ích của hai nước, mà còn góp phần vào tăng cường hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực. Sự kiện đó góp phần làm thay đổi tình hình ở Đông Nam Á; các nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, nhiều nước thuộc châu Âu và cả Hoa Kỳ đã trước sau lần lượt bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Với thắng lợi này, chúng ta đã làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập, cấm vận Việt Nam của các thế lực thù địch, mở ra những điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới ở nước ta.
    Sự thật và ý nghĩa lịch sử của các sự kiện liên quan đến Hội nghị Thành Đô là như vậy. Viết như Minh Diện về sự kiện Thành Đô rồi đi đến kết luận “Nguyễn Văn Linh đã tự lội xuống ruộng, đúng hơn là tự dìm mình vào vũng bùn Thành Đô, và để mất sự kính trọng nhẽ ra ông được hưởng” là xuyên tạc lịch sử.

  2. Builan says:

    Baì viết cuả MINH DIỆN quá hay và quá thật _ Biết nhiều !

    “Cái gọi là “đúng” của Nguyễn Văn Linh là từ luận điểm câu nhử, đe dọa của Trung Quốc: “Âm mưu đế quốc Mỹ chống phá xã hội chủ nghĩa ở châu Á, cả Cu Ba. Nó đã phá Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta!”. Và, không hiểu Trung Quốc làm cách nào mà nó như thứ bùa mê thuốc lú để Nguyễn Văn Linh lý giải: “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa!”.”

    “THÀ MẤT NƯỚC HƠN LÀ MẤT ĐẢNG _BĂNG ĐẢNG CƯỚP NGÀY”
    Vẫn còn dài dài là ĐẠI HOẠ cho Tổ Quốc và Dân Tộc VIỆT NAM

    _ Là ĐẠI NẠN cho những nhà lãnh đạo NGU SI – Đặt quyền lôi ĐẢNG CƯỚP trên lôi ích cuả quốc gia dân tộc !!!!

    “Nguyễn Văn Linh đã đưa Việt Nam tiến lên một bước, nhưng rồi chính ông lại kéo Việt Nam lùi lại, ông mở cái cửa nhỏ thoát ra khỏi một ngõ cụt nhưng rồi chính ông lại đóng sập cánh cửa ra biển lớn của dân tộc vì ý thức bảo thủ và giáo điều cùa ông !

    Nguyễn Văn Linh đã tự lội xuống ruộng, đúng hơn tự dìm mình vào vũng bùn Thành Đô, và để mất sự kính trọng nhẽ ra ông được hưởng.”
    Trân trọng

    @ Chảng còn lời PHÁN XÉT nào chình xác hơn !

  3. Tiết Canh says:

    Ôi . Con cháu tụi nó đến bây giờ vẫn thích Vơ … sản của dân mà … thôi !!!

  4. Kiến Hòa says:

    “Phạm Văn Đồng tỏ ra ân hận vì không ngăn được Nguyễn Văn Linh ký thỏa thuận Thành Đô..”
    Nhưng Công hàm 1958 thì Việt gian Đồng vẩu nghĩ sao? chưa thấy hắn nhận tội cùng Hồ chí Minh đã bán nước trước cả Nguyễn văn Linh..
    Cộng sản nào cũng là những thằng bán nước, giết hại chính dân mình và cướp giựt công sức nhân dân.
    Con cháu chúng ngàn đời mang nhục của ông cha.

  5. Nguyen Trong Dan says:

    Lời nói trứ danh ngàn thu của Nguyễn Van Linh:

    … “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa!”

    Hết Ý Kiến !

  6. Tien ngu says:

    “Nguyễn Văn Linh đã tự lội xuống ruộng, đúng hơn tự dìm mình vào vũng bùn Thành Đô, và để mất sự kính trọng nhẽ ra ông được hưởng…”

    Thưa,

    Đây chỉ là quan điểm của…nhân dân cs. Riêng đối với nhân dân VN không cs, thì câu chuyện được VC…giãi phóng, là cái câu chuyện….xui tận mạng của một kiếp người…

    Cho nên bảo rằng anh Cộng này…khá, anh Cộng kia…bad, chẳng có…si nhê gì đối với nhân dân VN không thích cs cả.

    Anh Cộng nào cũng…láo như anh Cộng khác mà thôi…

    Nhân dân Tàu cũng như nhân dân Việt, mấy chục năm trời dưới sự lãnh đạo của các…đỉnh cao trí tuệ. sau chiến tranh, có cái con đường cho xe chạy cũng…èo ọt, khắp nước chỉ nà đường sình với đường đá lỡm chỡm.

    Theo Mỹ có vài năm, Mỹ đổ người đổ của qua Tàu, Tàu Cộng trở nên…có máu mặt với dân ngu…

    VC theo Tàu, hưỡng sái, cũng chỉ vài năm, bớt đói, nhân dân bắt đầu có quần áo đàng hoàng, che…củ cãi, khoe mới với…lối xóm, trên đường xá khắp xứ cũng bớt ăn mày, ma đói…

    Cộng Tàu với Cộng Việt, cho đến nay vẫn…chổng khu nói xấu Mỹ om sòm, trong khi hưỡng ơn…mưa móc của kỹ thuật Mỹ…hàng ngày, hàng giờ. Mỹ viện trợ nhân đạo cho Cộng Tàu, Tàu chia chút viện trợ lại cho Cộng Việt. Ai cũng thấy cả…

    Câu chuyện…cộng sản, thiên đường hơn hẳn tư bãn tự do, rỏ ràng là câu chuyện…đưa em vào hạ, thanh thiếu niên Việt đã tìm đường chết một cách…lãng xẹt, cho cái chủ nghĩa…láo…

    Ấy thế mà vẫn…anh Cộng này bảnh, anh Cộng kia…too bad…

    Mần ơn…tỉnh ngủ dùm cái đi, ông…Minh Diện.
    Hãy…co giò, đạp cho các anh Cộng láo vài đạp, đời ông mới là…đời người…

  7. Vũ Duy Giang says:

    Thực ra tại hội nghị Thành Đô,Giang Trạch Dân cũng đã cho CSVN thêm một”bài học” lần thứ 2,sau bài học đầu vào năm 1979 do Đặng tiểu Bình dành cho CSVN.

    Bài học thứ hai này gồm có”16 chữ vàng”,và “Bốn tốt”(Tứ Hảo)mà các chóp bu CSVN tiếp tục học tập đến nay,và tới khi nào đầu họ bị ngập nước Biển Đông trở thành khu”đặc quyền kinh tế”của TQ !

  8. Chim Gõ Kiến says:

    Không chỉ có NV.Linh mà tất cả những người lãnh đạo của đảng cs VN đều là tội đồ của Dân tộc Viêt Nam:
    Vì họ đã chung sức với HCM, Lê Duẩn duy trì chế độ cộng sản ác độc, vô nhân tính, đọa đày dân Việt Nam dưới cái tên của thứ công cụ rất công sản lừa mị là chuyên chính vô sản,
    Vì họ đã đặt Đất nước, Dân tộc thấp hơn sự tồn tại của đảng cs, mà ho can tâm cúi đầu là nô lệ cho giặc tàu, can tâm cắt đất, hiến dâng biển đảo cho giặc tàu để đổi lấy che chở của giặc tàu, làm đất nước, Dân tộc trong cảnh điêu linh như ngày nay.
    Vì một lý tưởng cộng sản hoang đường, ngu muội mà họ gây nên mấy cuộc chiến tranh phi nghĩa và đẫm máu cho Dân tộc Việt Nam giết hại lẫn nhau.
    Vì một cách tư duy không giống ai mà họ đã phá nát hết nền tảng văn hóa rất nhân bản Dân tộc đã được xây dựng từ bao đời nay của ông cha ta.
    Còn vì rất nhiều tội lỗi nữa của bè lũ cộng sản không thể kể hết, khi nào đất nước VN được tự do, dân chủ các nhà sử học chân chính sẽ thống kê hết tội lỗi của đảng cs VN, khi đó chúng ta mới thấy hết tội lỗi của cs VN. Điều đó chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai không xa.

    • Lý Đảo Chính says:

      Chính xác. Không nghe theo cs, không làm bạn với bắc kỳ, không mua gì của Trung quốc.

      • Chim Gõ Kiến says:

        Bạn thân mến!
        Cs VN không chỉ có tội với MN VN mà là có tội với cả dân tộc, đất nước VN. Chúng ta cùng chung một nguyện vọng đấu tranh cho Dân chủ, Tự do và cho một nước VN giàu mạnh, vậy không nên phân biệt Bắc Trung Nam, không nên phân biệt quá khứ. Chống TQ là chống bè lũ cs TQ đại hán chứ không phải là toàn dân TQ.
        Thân ái.

  9. Dao Cong Khai says:

    Đúng là một chế độ độc tài đảng trị. Các đồng chí khoái làm cái gì là làm cái đó, chả cần nghĩ đến quyền lợi của người dân.

Phản hồi