|

Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (2)

bia btc2Về thể loại của Bên Thắng Cuộc, có hai khía cạnh cần chú ý: phương pháp nghiên cứu và cách trình bày.

Về phương pháp, Huy Đức thu thập tài liệu chủ yếu qua các cuộc phỏng vấn, “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”, một phương pháp gắn liền với ngành khẩu sử (oral history), một lối viết thịnh hành ở Tây phương từ khoảng cuối thập niên 1960, và trở thành một ngành học ở các đại học Tây phương từ cuối thế kỷ 20. Khẩu sử khác lịch sử. Khác, trước hết, ở nguồn tài liệu: với lịch sử, chủ yếu là các văn bản viết; với khẩu sử, chủ yếu là các lời kể của những người trong cuộc hoặc chứng nhân được thu thập qua các cuộc phỏng vấn. Khác nữa, ở đối tượng: với lịch sử, đó là các tài liệu lịch sử, nói cách khác, lịch sử là lịch sử trên lịch sử; với khẩu sử, đó là ký ức, hoặc ký ức cá nhân hoặc ký ức tập thể. Khác, cuối cùng, còn ở tính chất, như là hệ quả của hai cái khác ở trên: trong khi văn bản viết là những gì đã được công bố, nghĩa là, thứ nhất, thuộc về công chúng; thứ hai, với những mức độ khác nhau, được xác minh, do đó, được xem là ít nhiều đáng tin cậy; các lời kể trong các cuộc phỏng vấn, ngược lại, gắn liền với từng cá nhân, xuất phát từ kinh nghiệm riêng, chúng có thể bị khúc xạ, bị biến dạng, thậm chí, được “viết lại” theo những thay đổi trong tâm lý của người kể. Nói cách khác, trong khi lịch sử là những gì đã được chọn lọc khá kỹ, khẩu sử thường là những vật liệu thô; trong khi những người viết sử như những người làm việc trong các tiệm kim hoàn, những người viết khẩu sử như những người làm việc với vỉa quặng trong các hầm mỏ.

Tuy nhiên, về bản chất, lịch sử và khẩu sử giống nhau ở khá nhiều điểm. Thứ nhất, chúng đều là những hình thức diễn ngôn về quá khứ (discourse about the past) chứ không phải bản thân quá khứ. Quá khứ là những gì đã qua và đã biến mất. Diễn ngôn về quá khứ là những tự sự được xây dựng để tái tạo lại quá khứ ấy nhằm đáp ứng một nhu cầu trong hiện tại. Thứ hai, là diễn ngôn, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều có tính chất chủ quan, hoặc của một người hoặc của một nhóm người. Thứ ba, do tính chất chủ quan ấy, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều luôn luôn được viết lại. Mỗi thời đại hoặc mỗi thế hệ đều cảm thấy có nhu cầu tái cấu trúc ký ức và diễn dịch lại quá khứ, do đó, bao giờ cũng tìm cách viết lại những gì các thế hệ đi trước đã viết.
Về cách trình bày, Bên Thắng Cuộc có tính chất báo chí hơn là lịch sử. Có hai điểm khác nhau căn bản giữa báo chí và lịch sử: Thứ nhất, trong khi lịch sử nặng về phân tích, báo chỉ nặng về miêu tả; thứ hai, trong việc sử dụng tài liệu, kể cả tư liệu lấy được từ các cuộc phỏng vấn, yêu cầu cao nhất đối với lịch sử là mức độ khả tín, nghĩa là cần được đối chiếu và xác minh cẩn thận; với báo chí, là tính chất tươi ròng của tài liệu; và vì tính chất tươi ròng ấy, nhiều lúc chưa chắc chúng đã chính xác, hoặc nếu chính xác, chưa chắc đã có ý nghĩa tiêu biểu đủ để phản ánh thực chất của vấn đề.
Nhìn Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm báo chí dựa trên phương pháp khẩu sử, chúng ta dễ dàng chấp nhận một số khuyết điểm vốn rất dễ thấy trong cuốn sách.

Thứ nhất, về phương diện cấu trúc, đặc biệt ở tập 2, “Quyền bính”; ở đó, thứ nhất, quan hệ giữa các chương không theo một trật tự logic nào cả; thứ hai, giữa các chương cũng không có sự cân đối cần thiết: có một số chương được viết kỹ và nhiều chi tiết (ví dụ về Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt) hơn hẳn các chương khác (ví dụ về Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh). Lý do khá dễ hiểu: Huy Đức không hoàn toàn làm chủ nguồn tư liệu của mình. Với những người anh tiếp cận được dễ, anh viết sâu; với những người ở xa, anh viết cạn. Vậy thôi.

Thứ hai, về vấn đề tư liệu. Huy Đức phỏng vấn rất nhiều người, nhưng không phải TẤT CẢ mọi người ở mọi phía; hơn nữa, anh chưa tiếp cận được những nguồn tài liệu mật của Bộ Chính trị nên nhiều vấn đề vẫn khiến người đọc hoang mang. Trong số đó, có hai vấn đề lớn nhất: Một, việc cuối năm 1967, Hồ Chí Minh thường xuyên sang Trung Quốc dưỡng bệnh và Võ Nguyên Giáp thì được cử đi Hungary. Nhiều người cho đó là một cách nghi binh nhằm che giấu ý đồ tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Huy Đức, theo lời kể của một số người, cho hai người bị đưa đi “an trí” để Lê Đức Thọ ra tay thâu tóm quyền lực. Cách giải thích như vậy lại làm nảy sinh nhiều vấn đề khác: chẳng hạn, tại sao Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lại tung ra cuộc đấu đá nội bộ ở vào một thời điểm quan trọng, lúc họ cần đoàn kết và tập trung nhất cho một trận chiến quyết liệt như vậy? Hai, Huy Đức cho giới lãnh đạo Việt Nam, trong những năm 1976 và 1977, không đánh giá đúng mức sự thù nghịch của Pol Pot đối với Việt Nam và từ đó, tầm vóc của cuộc chiến tranh chống Việt Nam do Pol Pot phát động, và đầu năm 1979, hoàn toàn bất ngờ trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (GP, tr. 76); tuy nhiên, trước đó, anh lại kể, từ cuối năm 1977, trong chuyến thăm Cần Giờ, Lê Duẩn đã trả lời thắc mắc của một số đảng viên trong huyện ủy: “Các đồng chí hỏi đúng vào một tình hình cả nước đang quan tâm. Chúng tôi đau đầu lắm, ngủ không được. Không phải là vấn đề Khmer Đỏ mà là vấn đề ai ở đằng sau Khmer Đỏ, đằng sau Pol Pot. Ta đã đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung Quốc đánh ta thôi.” (GP, tr. 72-3) Biết thế mà vẫn “bất ngờ” là sao?

Thứ ba, quan trọng nhất, nhiều chương chỉ có tính chất tự sự nhưng lại thiếu hẳn tính chất phân tích, do đó, tuy hấp dẫn, chúng không giải thích được gì cả. Ví dụ, trong tập “Giải phóng”, Huy Đức viết về Lê Duẩn khá dài, nhưng phần lớn đều tập trung vào cuộc sống và tính cách của ông: Ông có hai vợ, một ở miền Bắc và một ở miền Nam; lúc ở miền Nam, ông nổi tiếng về nhiệt tình và năng lực làm việc không biết mệt mỏi, lúc ra miền Bắc, ông lại nổi tiếng là thích nói chuyện lý thuyết, và khi nói chuyện, có thói quen hay ngắt lời người khác. Nhưng có những điểm quan trọng nhất lại không được phân tích: Một, tại sao Hồ Chí Minh lại tin cậy Lê Duẩn đến độ giao ngay cho ông chức Tổng Bí thư ngay sau khi ông mới ra Hà Nội như vậy? Lúc ấy, chung quanh Hồ Chí Minh, ngoài Trường Chinh vốn đã bị mang tiếng sau vụ cải cách ruộng đất, có rất nhiều tay chân thân thiết, kể cả hai người được ông và nhiều người khác yêu mến: Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng? Hai, tại sao, từ miền Nam mới ra Bắc, hầu như hoàn toàn đơn độc, chỉ trong vòng mấy năm, Lê Duẩn đã có thể thao túng toàn bộ guồng máy đảng Cộng sản, lấn át quyền hành của tất cả mọi người, kể cả Hồ Chí Minh, như vậy? Ông sử dụng các biện pháp gì để xây dựng vây cánh và quyền lực một cách nhanh chóng và hiệu quả như vậy? Ba, tại sao một người nổi tiếng quyền biến và, đến lúc chết, vẫn có uy tín rất lớn, không những ở miền Bắc mà còn trên cả thế giới, như Hồ Chí Minh, lại đành nhẫn nhục chịu đựng cảnh bị Lê Duẩn tước đoạt quyền hành mà không hề tìm cách kháng cự như vậy? Đó là những vấn đề giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại không thể không đặt ra.

Những khuyết điểm trên có thể được chấp nhận hoặc bỏ qua nếu chúng ta đọc Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm tường thuật về tình hình chính trị của một thời đại. Mang tính báo chí, Bên Thắng Cuộc gần với khẩu sử hơn lịch sử. Tự bản chất, khẩu sử là ký ức. Với ký ức, quan trọng nhất là câu chuyện chứ không phải phân tích. Mà các câu chuyện trong Bên Thắng Cuộc thì không những hấp dẫn mà còn đa dạng vô cùng. Tính chất đa dạng ấy làm cho bức tranh Huy Đức mô tả trở thành đa diện. Nhìn từ góc độ ấy, chúng ta sẽ thấy có khi ngay cả những chi tiết nhí nhắt nhất cũng có thể hữu ích. Ví dụ, lời tâm sự của bà Nguyễn Thụy Nga (trong sách có lúc viết tên lót là Thụy, lúc lại viết là Thị), người “vợ miền Nam” của Lê Duẩn, về chồng bà: “Trong tình yêu anh cũng như con nít” (GP, tr. 117). Câu ấy, tự nó, không tiết lộ được điều gì cả. Thì có người đàn ông nào, trong tình yêu, lại không giống con nít? Nhưng nó vẫn giúp người đọc, khi nhìn lại Lê Duẩn, thấy ở ông, ngoài hình ảnh một nhà lãnh đạo cuồng tín, thủ đoạn và độc đoán, còn có một khía cạnh khác: một con người. Những cách nói năng kiểu “thằng này, thằng nọ” của Nguyễn Văn Linh, cũng vậy, đều tiết lộ một cá tính. Đối với người bình thường, cá tính thường bị loại trừ từ góc độ nghề nghiệp. Nhưng với các chính khách, đặc biệt khi chính khách ấy nắm giữ vai trò lãnh đạo, cá tính lại được chú ý vì nó ảnh hưởng đến chính sách, từ đó, đến đường lối chung, và cũng từ đó nữa, đến cả vận mệnh của đất nước.

Bên Thắng Cuộc hay, rất hay, nhưng cũng giống như mọi cuốn tường thuật hay khẩu sử, nó là một cái gì dở dang. Nó là một khối quặng chưa được tinh chế. Nó cung cấp cho người đọc cả hàng ngàn câu chuyện từ cả mấy trăm người kể khác nhau để người đọc, hoặc các sử gia sau này, so sánh, diễn dịch, phân tích và/hoặc tổng hợp lại để thành một bức tranh hoàn chỉnh hơn.

Ở trên (bài số 1), tôi có viết điều tôi thích nhất ở Bên Thắng Cuộc là tư liệu. Vậy điều kế tiếp? Đó là quan điểm. Một số người ở hải ngoại, chỉ nhìn vào mấy dòng lý lịch trích ngang của Huy Đức, thấy anh đã từng là bộ đội, lại là sĩ quan, đã lên tiếng phê phán và tố cáo anh, dù có khi chưa hề đọc trang nào trong cuốn sách. Đó chỉ là một nhận định vội vã và đầy thành kiến. Trong lời nói đầu tập “Giải phóng”, Huy Đức cho biết cuốn sách của anh là “công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật”. Dĩ nhiên, chúng ta biết, “sự thật” là một khái niệm rất mơ hồ. Và tương đối. Nhưng cách hiểu về cái gọi là “sự thật” ấy của Huy Đức, theo tôi, rất đơn giản nhưng chính xác: Chúng là những gì khác hẳn với “những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền” ở Việt Nam. Theo đuổi mục tiêu ấy, không thể nói lúc nào Huy Đức cũng thành công. Đó là điều dễ hiểu. Ai cũng vậy thôi. Có điều tôi cho là đáng khen ngợi nhất ở anh là anh có thiện chí và cố gắng.

Thiện chí và cố gắng ấy thể hiện ngay ở nhan đề cuốn sách: Bên Thắng Cuộc. Tại sao không phải là “thắng trận” hay “chiến thắng” như hai cách nói khác thông dụng hơn? Tôi nghĩ đó là một lựa chọn. “Thắng trận” chỉ thuần về quân sự. Nhưng đề tài Huy Đức muốn trình bày không phải chỉ là quân sự. Còn “chiến thắng”? Trong chữ “chiến thắng”, ngoài ý nghĩa “thắng”, còn có hai nét nghĩa phụ khác, đi kèm, đến từ chữ “chiến”: chính nghĩa và vinh quang. Không ai dùng chữ “chiến thắng” để nói về kẻ đi đánh lén người khác, chẳng hạn. Chữ “thắng cuộc” hoàn toàn không có những hàm ý như thế. Đánh bài: thắng cuộc. Cá cược: thắng cuộc. Dùng chữ “bên thắng cuộc”, Huy Đức, một mặt, tước bỏ các huyền thoại chung quanh từ “chiến thắng” vốn thường được sử dụng, mặt khác, xem chiến tranh, tự bản chất, như một ván bài về quyền lực. Vậy thôi. Trong ván bài, việc thắng thua tuỳ thuộc may rủi chứ không dính dáng gì đến chuyện chính nghĩa hay không chính nghĩa.

Trong tập “Quyền bính”, ở chương “XVII: Tam quyền không phân lập”, khi nói về những sự thay đổi Hiến pháp ở Việt Nam, Huy Đức viết: “Hiến pháp 1992, vì thế, đã không tiếp cận được những mô hình nhà nước tiến bộ để trở thành nền tảng cho Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền.” (QB. 90) Xin lưu ý: chữ “tiến bộ” đằng sau chữ “nhà nước” và đằng trước cụm từ “nhà nước pháp quyền” ở câu trên hoàn toàn trái ngược với cách hiểu về chữ “tiến bộ” mà giới truyền thông Việt Nam thường sử dụng.

Trong giới lãnh đạo Việt Nam, rõ ràng Huy Đức tỏ ra ưu ái đặc biệt với hai người: Võ Nguyên Giáp và Võ Văn Kiệt. Nhưng ngay cả như vậy, ở cả hai, Huy Đức đều nhận thấy những khuyết điểm căn bản của họ: trung thành một cách dại dột. Phê bình như thế, Huy Đức thấy được một vấn đề thuộc về bản chất của chế độ. Bản chất được anh viết trong lời nói đầu tập “Quyền bính”: “Hệ thống chính trị, trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng có ít khả năng khắc phục sai lầm.” Nhưng nếu nó không có khả năng tự khắc phục sai lầm thì sao? Ai sẽ đảm nhận trách nhiệm ấy? Câu trả lời nằm trong những điều Huy Đức chưa nói hết: Có thể là bất cứ ai, nhưng chắc chắn là không phải từ “hệ thống”.

Đó chính là lý do chính khiến báo chí trong nước xúm vào đánh cuốn Bên Thắng Cuộc.

Dĩ nhiên, Bên Thắng Cuộc không tránh khỏi khuyết điểm. Chả có cuốn sách nào không có khuyết điểm cả. Vấn đề chỉ là nhiều hay ít. Ở cuốn Bên Thắng Cuộc, theo tôi: Ít. Điều thú vị là, hầu hết các sai lầm của anh đều liên quan đến văn học. Trong chương “XI: Campuchia” của tập “Giải phóng”, anh nhận định: “Cảnh giác với người Trung Hoa là điều đã có từ trong máu người Việt Nam. Nhưng, trong lịch sử nghìn năm kháng cự để tồn tại với ‘thiên triều’, chưa có triều đại nào lại công khai xác định Trung Quốc là ‘kẻ thù truyền kiếp và lâu dài’ trong các văn kiện chính thức như thời Tổng bí thư Lê Duẩn.” (GP, tr. 160). Sai. Huy Đức quên trong Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi có câu này: “Kẻ thế thù đâu thể đội trời chung”  (Niệm thế thù khởi khả cộng đái / 念 世讎 豈 可 共 戴). Thế thù: Kẻ thù truyền kiếp. Trong “chương XII: Cởi trói” của cuốn “Quyền bính”, nhân nhắc đến các dấu mốc lớn trong  lịch sử báo chí Việt Nam, anh viết : “Thơ Mới, cuối thập niên 1930” (QB, tr. 11).  Sai. Thời điểm ra đời của Thơ Mới là đầu chứ không phải cuối thập niên 1930. Trong vòng chưa tới 10 năm, Thơ Mới đã đi hết một chặng đường. Cũng trong chương ấy, anh trích bài “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật như sau: “Khói bom lên trời thành những vòng đen / Và dưới mặt đất sinh ra bao vòng trắng / Tôi với bạn đi trong im lặng / Khăn tang trên đầu như một số không” (QB, tr. 18). Sai nhiều chỗ. Nguyên văn bài thơ ấy là:

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

Ngay cả mấy câu thơ của Nguyễn Duy được trích làm đề từ cho cuốn sách cũng sai:

Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh
Bên nào thắng thì nhân dân đều bại.

Nguyên văn của Nguyễn Duy như sau:

Ta mặc niệm trước Angkor đổ nát
đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người

Đá ơi
xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình!

Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

(In trong tập Quà tặng, nxb Văn Học, 1990, tr. 78)

“Nghĩ” khác với “suy”, “mọi” khác với “mỗi”, và “phe” khác với “bên”.

Cũng như “bên thắng cuộc” khác với “bên chiến thắng”.

Một điều cuối cùng: Không ít người cho chọn cách tiếp cận từ phía những người thắng cuộc như Huy Đức là một chọn lựa đầy thiên vị, từ đó, bức tranh anh muốn phác họa sẽ bị lệch lạc theo. Theo tôi, không đúng. Thứ nhất, trong mọi lịch sử, những người “thắng cuộc” – xưa là vua chúa, sau này, giới cầm quyền – bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm, cần được nghiên cứu nhất, bởi chính họ, một cách tích cực hay tiêu cực, quyết định diện mạo của một thời đại và số phận của một dân tộc. Thứ hai, vấn đề không phải lệch lạc hay không. Vấn đề chỉ là ở mức độ. Không có một cuốn sách nào, kể cả lịch sử, chính xác hoàn toàn. Thậm chí, các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa còn hoài nghi cái gọi là lịch sử nói chung: Họ xem lịch sử như một biểu hiện của đại tự sự (grand narrative), một tham vọng đạt đến cái nhìn bao quát toàn bộ sự thật và thực tại: Với họ, đó là điều bất khả. Hơn nữa, họ xem lịch sử bao giờ cũng gắn liền với một quan điểm và một góc nhìn nhất định: lịch sử (history) là chuyện của ông-ấy, của một gã nào đó (his-story). Chứ không có một lịch sử chung nhất cho mọi người.

Bên Thắng Cuộc là một tác phẩm hay nhưng dĩ nhiên, như mọi cuốn sách khác, không hoàn hảo. Cái không hoàn hảo ấy cần được hoàn thiện dần dần. Bằng những tác phẩm khác. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Và càng không đáng phản đối.

© Nguyễn Hưng Quốc – VOA 
***
Kỳ tới: Chân dung “bên thắng cuộc”
Chú thích: Số trang trong phần chú thích ghi theo bản “Smashworlds Edition” của  Bên Thắng Cuộc.

 

15 Phản hồi cho “Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (2)”

  1. mẹcộng says:

    1/Khi người tới báo tin chiến thắng thì lêduẩnngủ hay nghỉ hay suy nghỉ hoặc làm gì đó (thậm chí ngủ với gái non) thì ai biết.LêDuẩn quyền uy như vậy thì vào phải báo ngưòi ‘thư ký”hay “cần vụ” của hắn mới cho gặp.Vậy HĐ chỉ viết theo người ta nói lại. Tôi chẳng binh gì HĐ,nhưng thấy NQC đem chuyện này ra ,gán cho HĐ láo ,không là viết sử mà là ziết sửlà không đúng .HĐ không viết sử (chỉ có hạng trí thức cùng thời ,không biết gì về CS/QG về cuộc chiến mới cho là HĐ đỉnh cao trí tuệ ,người viết sử chân chính mà thôi! Đây chỉ là một bàn liệt kê sự kiện xảy ra nhìn từ góc độ của bên thắng cuôc (tất cà nhửng người HĐ “phỏng vấn” có ghi trong sách hoàn toàn là phe thăng cuôc và bọn tay sai,việt gian mà thôi!). Bên thua cuôc không có tiếng nói trong cuốn sách đó và ngay cái tựa củng biết là bên thắng cuôc đang tự ca ngợi mình ,đang tự hào về mình ,nếu có chút phê phán nào sai trái thì là chuyện bình thường:bên thắng cuộc “nói” cho có vẻ “vô tư “(như người hànội!) :TA VẦN LÀ KẺ THẮNG CUỘC !!!!!
    2/Cáí phản hối của tên nvxuân thì rỏ ràng là 01trong 10,000 tên cbcs được đảng cho công tác ,chui sâu vào CĐ để thi hành NQ36 . Mở đầu là nhửng tờ báo hắn ta đọc là báo chẳng ai biết ,còn viẹtweekly,củng như tờ ngườiviệt hay SGN hay báo mạng của nphùng thì đều là của VC hay thiên cộng ,cùng phe của “xuân ta” rồi !Đọc mà Tin thì chỉ có VC tin…
    Tôi không tin HDH nói như vậy ví ông ta là con trai của một nhà cm có chức vụ trong một dảng chống cộng kỳcựu ,có tiếng,ở miền Trung (ĐN),dù hồi đó còn nhỏ nhưng ông ta đả từng được cha sai đạp xe đimới các “đồng chí ” tới họp đảng Sau này ông ta còn nói là đảng trường HTK rất thương quí ông ta,coi như một thế hệ tiếp nối xuất sắc. Dù nay ông thành lập một đảng khác nhưng tiêu chí vẩn là chống cộng.(tôi tin là HDH không thể bán tinhthần chống cộng của người cha và các đồng chí của cha,của đảng trưởng HTK. Và câu nói của ông ,nếu có ,đó chỉ là lịch sựxả giao của người nghị viên Mỷ góc Việt. Vả lại,người VN ai không xúc động khi về lại quê hương,nhưng HDH thăm đền Hùng để “chỉ cầu xin Quốc Tổ phù hộ cho con dân Việt đoàn kết, chung sức xây dựng đất nước hùng cường và tương lai sáng lạng.” HDH sao lại cầu xin như vậy ? Thì cứ nhìn xem hiện trạng quê hương ,HÈN VỚI GIẶC ,ÁC VỚI DÂN,bán nước buôn dân ,dở thủ đoạn lưu manh chia rẻ (10000 CBCS ra hải ngoại làm “địch vận” gây chia rẻ lung tung) thì HDH XINvới VUA HÙNG như vậy đâu có nghỉa là HDH theo về phe của nvxuân ?Đọc lại và suy ngẩm xem sao?
    Một cái phản hồi với giọng văn kẻ cả loi đuôi chồn cáo,kiêu căng và ngạo mạn như vậy thì làm sao thuyết phục được ai ?Nó làm tôi nhớ câu nói của pqd vừa cuời đểu vừa trả lời ĐQAT(báo ngườiviệt) là ::”thật không ngờ là các anh củng có người biết yêu nước đấy nhỉ !” (Thì ra yêu nước là yêu ĐạHán ,làm tay sai cho Tàu ,dâng giang sơn cho Tàu/tin mới nhất là tàu bắn cháy một ghe ca của dân QN dẩu có treo cờ và thủy thủ lên ngồi như con chó trên cabin đẻ chứng tỏ thần phục,không vủ khí/và một tàu khác bị Tàu đuổi chạy re trên vùng đảo của mình. PNVBGGVN phản đối như dê kêu,tụi chệt không thẻèm trả lời nói chi bồi thương và xin lổi,con khuyến cao là nên dạy dân đen của XHCNVN không nên đánh bắt cá nửa chứ !). Tội nghiệp cho con người không biết nói tiếng người chỉ biết sủa theo bầyđàn.theo “phường hội …!”
    Lòi đuôi chốn cáohồ ly tinh ra rồi ,nguyểnĐẮC(àkhông)nguyểnviếtxuân !
    (mc)

  2. Nguyễn Quang Chiến says:

    Tôi chưa khẳng định HĐ có nói thật hay không (cái này phải đợi thêm) mà chỉ nói rằng với những gì HĐ viết chẳng có gì là LS như người ta tâng bốc cả. Nói đến lịch sử là phải nói đến sự kiện (từ khởi đầu > diễn biến > kết cục của nó) chứ không phải là phép cộng những tiểu tiết nhỏ lẻ có chủ ý nhằm phục vụ cho những ý đồ cá nhân (ý đồ cá nhân của HĐ ở đây là dùng những tiểu tiết, đời tư của LĐ cao cấp của Đảng CS và Nhà nước VN mà hắn đề cập để từ đó làm lu mờ những sự kiện quan trọng của LS, phủ nhận những thắng lợi của CM Việt Nam).

    1 thí dụ điển hình: tiểu tiết Hồ Ngọc Đại khi đến thăm bố vợ (ông Lê Duẩn) báo tin chiến thắng 30/4 thì lại thấy ông LD đang “ngủ”. Cứ cho rằng đây là 1 sự việc có thật đi nữa (tuy nhiên cần lưu ý người đang nằm nhắm mắt chưa chắc đã ngủ) thì cũng chưa nói lên điều gì. Phải chăng đưa tiểu tiết này ra HĐ (và cả HNĐ) có ý hướng người đọc đến suy nghĩ cho rằng ông Duẩn “thờ ơ” với sự kiện này, mà không biết rằng cái tin này ông đã biết trước khi HNĐ đến báo tin và trước đó ông đã phải thức cả đêm theo dõi tin tức chiến sự. Còn khi HNĐ đến chắc gì ông LD đang ngủ mà đang nằm nghỉ và sao không nghĩ rằng ông đang suy nghĩ để vạch ra những kế sách mang tầm QG mà ông và Đảng của ông cần làm cho gia đoạn tiếp theo?

    Kiểu viết như thế này người ta gọi là kiểu “bới lông tìm vết” hèn hạ, là “ziết sử” chứ không phải là “viết sử”.

  3. Nguyễn Viết Xuân says:

    Gần đây tôi thường xuyên theo dõi các trang mạng hải ngoại như: Vietmediaagency, Việt Weekly, Hướng Việt, Treoline… để xem thông tin. Tôi rất vui mừng cho các trang báo hải ngoại gần đây đã có nhiều khởi sắc, nó như một làng gió mới thổi vào căn nhà yếm khí của những người CCCĐ ở Hải ngoại suốt 37 năm qua. Bên cạnh những trang báo còn sặc mùi chống cộng thì vẫn có những bài báo có nội dung phản ánh trung thực các thông tin trong nước như chuyến đi Trường sa của phái đoàn người Việt ở hải ngoại năm 2012 của các nhà báo có tấm lòng với quê Mẹ Việt nam như nhà báo: Nguyễn Phương Hùng, Vũ Hoang Lân, Etcetera Nguyễn … Hôm nay lại một niềm vui nữa đến với những người con xa xứ và đồng bào trong nước, đó là chuyến đi lịch sử của phái đoàn nghị viên Hoàng Duy Hùng. Theo dõi thông tin trên KBCHN và Video…tôi rất tâm đắc và xúc động khi nghe câu nói của một nghị viện nước Mỹ gốc Việt- Hoàng Duy Hùng: “Không có gì sung sướng khi được trở về quê Mẹ thăm lại Thánh Điạ Đền Hùng,” và câu rất ý nghĩa: “Tôi chỉ cầu xin Quốc Tổ phù hộ cho con dân Việt đoàn kết, chung sức xây dựng đất nước hùng cường và tương lai sáng lạng.”
    Hơn ai hết, các anh đã thấu hiểu sự mất mát và nỗi đau của chiến tranh để lại cho dân tộc Việt Nam, trong đó có rất nhiều người thân của bà con Việt kiều!

    Đất nước đã hòa bình thống nhất gần 38 năm rồi (kể từ 30/4/1975), vết thương vì bom đạn đã lành lặn trên cơ thể mỗi người dân Việt, nhưng vết thương lòng vẫn còn đó phải không các bạn?! Tôi đã từng thấy những người con xa xứ(bất cứ vì hoàn cảnh nào) đã khóc như rẻ thơ trong lần về thăm quê hương đất nước, làm mọi người xung quanh cũng rất cảm động và không làm sao cầm được những giọt nước mắt đồng cảm! Nhưng thực tế người Việt ta ở hải ngoại vẫn còn nhiều nhóm người cố tình muốn quên đi nguồn cội, hoặc cố ôm hận thù dân tộc vì nhiều lý do khác nhau. Nên họ thành lập nhiều nghiệp đoàn để tổ chức biểu tình chống lại nhiều vấn đề mà họ cho rằng có lợi cho nhà nước Việt Nam?! Họ dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ để ra oai, hoặc thị uy những người yếu bóng vía! Có lẽ họ bấu víu vào lá cờ vàng để ôm giấc mộng ngàn thu chăng? Nhưng thôi, tựu chung, họ cũng là con người! Họ cũng có trái tim, khối óc, hơn nữa họ mang trong mình dòng máu đỏ-da vàng và nguồn cội là người Việt Nam “con cháu Rồng Tiên”! Vậy nên tôi mong rằng mọi người hãy thông cảm cho họ, và tin rằng tương lai không xa sau chuyến đi về VN của nghị viện Hoàng Duy Hùng thì sẽ có nhiều người thay đổi suy nghĩ và hành động khác hơn. Và cũng sẽ có nhiều bà con về thăm quê hơn giống như lời tâm sự của anh Nguyễn Phương Hùng: Ai chưa về VN, hãy về một lần cho biết! Và khi đã biết rồi thì cảm thấy gần gũi, thân thiện và có thể bỏ qua tất cả để cùng hướng về Tổ Quốc Việt Nam thân yêu! Xin cảm ơn các nhà báo hải ngoại đã cho chúng tôi(độc giả) biết được những thông tin này!

  4. Mua sach' says:

    Từ ngay sau khi cuốn Bên Thắng Cuộc được ca ngợi cách đây vài tháng, trên mạng toàn bộ cuốn sách được phổ hiến đầy ra mà nhiều người còn chẳng muốn đọc.
    Nhiều người bỏ tiền mua sách sau hối tiếc vì thấy nó cũng chẳng có gì lạ, nó cũng thường thường như trăm nghìn cuốn sách khác mà thôi

Phản hồi