|

Tiếng nói từ những nạn nhân của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai [2]

Tiếp theo phần I

thangcuoc
Khuyết điểm thứ tư: Mục tiêu của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai

Đây có lẽ là vấn đề quan trọng nhất, là cội nguồn bản chất của cuộc chiến vừa qua. Các ông, các bà, quý vị, các trí thức, các nhà báo, các nhà chính trị, các người cộng sản muốn nói gì thì nói. Tôi vẩn khẳng định một điều: Kiếp nạn của con người, của cả thế giới trong thế kỷ thứ 20 là:

- kiếp nạn cộng sản: Hơn 100 triệu sinh linh đã gục ngã cho lý tưởng cộng sản. Hàng thế kỷ chậm tiến và lạc hậu để chỉ đạt được một thứ là : Huyền thoại phiêu du, lang bạt. (Le Mythe errant). Họ đã lãng phí, bỏ tất cả mọi năng lực, vốn liêng con người cho một lý tưởng mà thực tế không bao giờ Xã hội có được. Gần một thế kỷ, có ai tự hỏi hoặc tự vấn bao giờ con người VN tiến lên được XHCN.

- Kiếp nạn Hồi giáo cực đoan: Hiện nay nhân loại trong thế kỷ 21 đang phải đối diện với trục của điều xấu được coi là sự đe dọa đến sự an ninh của toàn thế giới. Đó là sự nổi dậy của những thành phần Hồi giáo cực đoan. Nếu ai trước là do ý thức hệ cực đoan và mù quáng, cái sau là cuồng tín và điên loạn. Hình như mỗi thế kỷ có những cái trục của điều xấu xảy ra như món quà Thượng Đế dành cho nhân loại?

Cái kiếp nạn ấy đáng nhẽ VN có thể tránh được, nhưng những người lãnh đạo Hà Nội đã bỏ mất ba cơ hội quý giá mà tôi đã tóm tắt ở trên – tôi chỉ nhấn mạnh sau 1975 mà không nhắc tới giai đoạn Bảo Đại:

-Sau 1975, bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Nhưng những cơ may hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi xứ sở lại do chính những người cộng sản đương quyền bỏ lỡ dịp may.

Sau ông Johnson đến Carter làm tổng thống, ông này đã nghĩ tới chuyện bắt tay hòa giải bằng cách bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Nhưng vì phía Việt Nam quá mông muội ảo tưởng với chứng bệnh vĩ cuồng, “ngon” nên đòi món quà hơn 3 tỉ Mỹ kim vô điều kiện về lời hứa của Nixon khi ký thoả ước đình chiến vào năm 1973. (Trước khi ký kết thỏa ước ngưng bắn 1973, Nixon có hứa bồi thường để hàn gắn vết thương chiến tranh khoảng hơn 3 tỷ đô la, nhưng chưa có sự thoả thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ. Như vậy vẫn có thể chỉ là một lời hứa suông).

Phái đoàn đại diện chính thức của Mỹ đến Việt Nam vào tháng 3, 1977 do Leonard Woodcock kể như về tay Không. Họ chỉ mang theo về được 12 thi hài lính Mỹ thuộc diện MIA. Tổng thống Carter sẵn sàng làm mọi chuyện, trừ truyện bồi hoàn không điều kiện. Vì thế Leonard Woocock đã nói với đại diện phía Việt Nam Phan Hiền như sau: “Let us go outside and jointly declare to the press that we have decided to normalize relations. Hien refused”.
Trích Hotbrooke, trích lại của Chanda, Brother Enemy, trang 152

Hiền refused mà chính là đảng refused!! Nhưng những cơ may hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi xứ sở lại do chính những người cộng sản đương quyền bỏ lỡ dịp may.

Sau này, hồi ký của Trần Quang Cơ, cựu thứ trưởng ngoại giao đã bày tỏ nỗi thất vọng chua chát về sự mông muội của Việt Nam qua Phan Hiền.- Đỗ loi64i cho Phan Hiền thì cũng tội quá- Biết bao hệ lụy của việc từ chối này. Như việc Mỹ dùng quyền phủ quyết Veto, ngăn chặn việc VN vào Liên Hiệp Quốc hay vào tháng 2/1979, Trung Cộng xua 200.000 quân sang VN, đối chọi với 100.000 quân đội miền Bắc với sự thỏa thuận ngầm của Mỹ (blessing of the United States). Và sau đó, gần 200.000 người gốc Trung Hoa đã tìm cách rời khỏi VN.

Và phải mất thêm gần 20 năm sau mới có cơ hội bình thường hóa với Mỹ, với các tổ chức quốc tế. Tự mình, chính quyền mới đã tự cô lập trong sự thỏa mãn với chính mình…

Dưới thời đệ I và đệ II cộng hòa, miền Nam Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới và với tất cả các tổ chức về y tế, các học viện, các quỹ tiền tệ và các tổ chức như: Plan de Colombo, FAO, O.N.U, OMS, WHO, UNESCO, UIT, UPU, IPF, ILO, OAA.v.v…

Chỉ tính đến năm 1955, chúng ta đã có mặt và là thành viên của trên hơn 30 tổ chức quốc tế này.

Tài liệu Viet Nam d’Hier et d’Aujourd’hui, Thái Văn Kiểm, trang 332.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm, cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ sau Hiệp định Paris “do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn”.

Đồng thời, trong những năm sau đó, “cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm”.

‘Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời ‘

Theo cựu ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, thách thức đặt trước dân tộc Việt Nam cả trong quá khứ và hiện tại là tư duy đối đầu, triệt tiêu lẫn nhau trong quan hệ với các nước ngoài.

Bên cạnh đó, là chính sách của nước lớn đối với nước nhỏ, mà ông gọi là “tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt”, tuy không chỉ rõ tên cường quốc.

Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!”
“Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!”
Ông cảnh báo: “Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng”.
Bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Cầm trên BBC

- Cơ hội thứ hai khi có sự sụp đổ các đảng cộng sản ở Đông Âu và nhất là ở Liên Xô.

Cơn bão dân chủ ở Đông Âu đã hẳn có những tác động dến tình hình chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên phải đợi đến khi Lê Duẩn chết vào tháng 7-1986 thì mới có dấu hiệu thay đổi ở Việt Nam. Đại hội đảng kỳ VI đã bầu Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí Thư và ông này cho áp dụng một số cải tổ theo xu hướng đổi mới. Tinh thần đổi mới là xóa bỏ chế độ bao cấp cũng như chế độ hai giá để giải quyết tình trạng thiếu hụt lương thực một cách trầm trọng. Để thực hiện điều này Nguyễn Văn Linh dưới bút hiệu N.V.L đã viết các loạt bài« Những việc cần làm ngay » đang trên nhật báo Nhân Dân.

Loạt bài báo của NVL như chất xúc tác giúp các nhà văn, nhà báo mạnh dạn tố cáo nạn cường hào, nạn tham nhũngvv..

Công việc đổi mới này cũng được giao cho tướng Trần Độ tổ chức họp các văn nghệ sĩ, trí thức tại Hà Nội ngày 6 và 7-1-1987. Rất nhiều nhà văn, trí thức đã lên phát biểu và sau này tướng Trần Độ đã cho in thành sách.

Trần Độ, Đổi mới, niềm vui chưa trọn vào năm 2000, xuất bản tại Hải ngoại
Về cơ may Đổi mói, xin đọc những tài liệu, bài báo của nhóm Chiều Thứ sáu gồm có: Những người tiên phong là Lâm Võ Hoàng, Phan Chánh Dưỡng, Phan Tường Vân, Huỳnh Bửu Sơn (người giữ chìa khóa kho bạc ngân hàng).

Hiện tôi có giữ được một tập hồ sơ về Đổi Mới của ông Lâm Võ Hoàng với một số lượng bài báo bài báo đủ loại được đăng báo trong nước. Ông là nhân tố chính trong nhóm Chiều Thứ sáu đã cố vấn cho ông Kiệt. Xin trích tóm lại vài dòng về cơ duyên của ông được ông Võ Văn Kiệt trọng dụng như thế nào. Trong bài viết : Nhóm thứ sáu, chỗ dựa và bệ phóng của tôi. Ông viết:

«Có thể nói, trước 30-4-1975, tôi đã thỏa chí bình sinh về sự nghiệp. Mặc dù tôi chỉ là phó ngân hàng Việt Nam thương tín, bộ kinh tế, nhưng được ông chánh nể… và lãnh lương cao nhất nước. Khi giải phóng gần kề, tôi đã chọn ở lại vì tôi đang ở tuổi 42 sung sức …Tôi vốn gàn nên cố bào chữa cho những thất bại ê chề cho những quyết định ở lại. Chẳng hạn tôi coi 55 tháng cải tạo là « cái vé » phải mua để bước vào xã hội mới, coi việc mất sạch nhà cửa, xe cộ, đồ đạc, bộ sưu tập đồ cổ, đồ ngọc như ân sủng của Chúa ban, để trắng tay, sạch trí, sạch lòng như ông Giốp trong Cựu Ước. (Xin thưa với độc giả, ông Lâm Võ Hoàng là người « đạo mới », khi có dịp ra ngoại quốc, ông cố đi gặp cựu Hồng y Nguyễn Văn Thuận như tình cha con và hiện nay ông đã hưu trí, cũng không viết nữa . Trong sự ngưng viết theo người em của ông, sợ cũng có, ông sống như một nhà tu hành- một người đạo hạnh, làm các công tác thiện nguyện).

Ông có cái may mắn là được ông Đặng Quan Đức và Hai Tân nhận cho vào làm trong ban Khoa Học và Kỹ Thuật TP HCM khi đi cải tạo về .- Một công việc ngồi chơi xơi nước sống vất vưởng là thân phận những người trí thức như ông-. Ông viết một bản góp ý chưa đầy hai trang giấy về việc thiết bị gì đó và được thành phố chấp nhận. Sau đó ông rủ những anh em mới đi học tập về vào nhóm kinh tế. Họ là những người đóng góp vào việc: «điều chỉnh giá, lương, tiền » (Primosa : Prix, Monnaie, Salaire).

Ông viết tiếp:

«Giữa tháng 10-1989, anh Sơn cho biết ông Sáu Dân mời anh và tôi ra Hà Nội làm việc về ngân hàng .. Những anh em khác thì đề quen biết ông Sáu Dân, riêng Lâm Võ Hoàng thì không. Ông viết:

«Duy chỉ có riêng tôi chỉ biết mặt ông qua hình trên báo, ti vi mà thôi. Anh viết, anh đả vặn máy hát về ngoại thương để ông Sáu ghi lia lịa: Cho nên, nhân dịp diện kiến này, xin anh Sáu cho tôi được trình bày những gì thuộc sở trường của tôi ngoài ngân hàng để mở rộng đóng góp của tôi trong các lãnh vực mà tôi từng có dịp phụ trách như ngoại thương và viện trợ Mỹ, hoặc có dịp làm quen như tài chánh, qua quan hệ tiếp xúc của tôi với các tổng trưởng tài chánh, bạn thân của tôi . Như vậy dù không có dịp trở ra, tôi cũng mát dạ vì đã có dịp nói hết những gì tôi ôm ấp bấy nay. Ông cười (ông Kiệt) và đồng ý, tôi lại vặn máy hát. ..

Năm 1993, anh Dưỡng , anh Tước, anh Sơn và tôi được ông Sáu Khải lên dangh sách «các chuyên gia tư vấn » thành viên» Tổ tư vấn Cải Cách hành chánh, cải cách kinh tế của thủ tướng chính phủ». Chúng tôi viết báo thường xưng là «chuyên viên kinh tế » là ngạch trật trong biên chến của chúng tôi . Tới cuối 1996, Tổ kết thúc nhiệm vụ với nhiệm kỳ của Thủ tướng Võ Văn Kiệt . Nhưng quan hệ tham vấn và góp ý giữa ông Sáu và chúng tôi vẫn không dứt từ 1986 với ba anh Dưởng, Sơn, Tước và 1989 với tôi cho đến năm 2001. Lợi ích gắn bó chúng tôi là lợi ích đất nước Việt Nam mà chúng tôi đồng yêu mến thiết tha. Về điểm này nên nhắc lại Tổ Tư Vấn của chúng tôi có quy chế độc nhất vô nhị thế giới do báo Nhân Dân ban cho, ngay sau lần họp đầu tiên. Đó là 5 không : Không có tổ chức, không biên chế, không ăn lương, không đại diện ai, không hạn chế trong phát biểu. Bốn «Không» đầu rỏ ràng là cầu cho được vậy để khỏi mè nheo sinh ra bế tắc. Cái «không » thứ năm rõ ràng không cầu mà lại được.

Khi mừng kỷ niệm, thông suốt đường giây 500KV được coi là «tác phẩm » của ông Kiệt. Ông Hai Chí có mỉa mai:

«Tụi tôi đâu đủ sức sử dụng chuyên gia tầm cỡ các anh». Tôi cười thầm, anh Hai tôi mà cũng biết hờn mát. Nhưng đây là vấn đề nghiêm trọng, khong thể nói giỡn, tôi thưa:

«Thưa anh Hai, tụi tôi như trái ớt, nó nằm trong đĩa nước mắm của người giàu cũng như người nghèo . Tùy tay người bỏ nó vô đĩa nào thì nó làm cay đĩa đó chứ nó đâu có thể tự ý nhảy vô đĩa nào tùy thích đâu».

Trong câu chót, ông viết như thế này:

«Khủng hoảng tài chánh năm 1997 từ Đông Nam Á ra toàn cầu, liệu có ảnh hưởng gì tới Việt Nam thì không cần sờ mu rùa đã dõng dạc đoan chắc không có ảnh hưởng gì ..Và ông cho rằng khủng hoảng đó là cuồng phong chỉ làm tróc các cây cổ thụ, còn cọng cỏ thì chỉ rạp xuống thôi. Ta là cọng cỏ, rỏ ràng lần này là may mắn . Nhưng liệu ta có cam tâm làm cọng cỏ suốt đời để khỏi sợ bão tố, hay là phải ráng vươn lên thành đại thụ để lâu lâu nếm mùi tróc gốc, cho ra vẻ «sành điệu» với thiên hạ ».
Lam Võ Hoang, nhóm chuyên vien “ Thứ sáu”, các bài viết trên báo Công giáo và dân tộc. Thang 08-2002

Viết đến đến đây, tôi tự hỏi có bao nhiêu người được cái may mắn như Dương Văn Ba và Lâm Võ Hoàng. Cử chỉ của ông Võ Văn Kiệt là xuất phát tự cái tâm của một con người- đối với con người- hay xuất phát từ một cơ chế? Dù ông Võ Văn Kiệt có thiện chí cách mấy, ông cũng vẫn nằm trong một cơ chế nên dù trân trọng ông, tất cả những chính sách sai lầm của đảng cộng sản thì ông đều có mặt, đều chia sẻ trách nhiệm!!

Người ta cũng ghi nhận được một số tên tuổi đã cất tiếng nói, dám lên tiếng trong giai đoạn « cởi trói » này như Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương, Lưu Quang Vũ, Phạm Tuyên, Phan Huy Lê, Trần Văn Thủy, Phan Đình Diệu, Nguyễn Khắc Việnvv.

Xin đọc Lý Thái Hùng, Đông Âu tại Việt Nam, đặc biệt là chương IX: Việt Nam trước cơn bão Dân Chủ ở Đông Âu, từ trang 335-402

Đặc biệt giới văn nghệ sĩ coi đây là một «cởi trói» văn nghệ và hàng loạt tác phẩm dám nói lên sự thật và không còn uốn cong ngòi bút như Phùng Gia Lộc, Nguyễn Huy Thiệp, Ngô Ngọc Bội, Hồ Trung Tú với các bài như: Cái đêm hôm ấy đêm gì, Người đàn bà quỳ, Bông luá nổi giận, Tướng về hưu vv..

Nhưng trước những biến cố dồn dập ở Đông Âu cũng như biến cố sinh viên Trung Quốc ở Quảng trường Thiên An Môn. Đảng cộng sản VN qua Nguyễn Văn Linh bắt đầu lo ngại quyền lực của dảng bị đe dọa, sói mòn nên Bộ Chính Trị hãm lại và coi rút lại để bảo vệ quyền lợi của đảng. Và cú ngoạn mục nhất là loại Trần Xuân Bách ra khỏi Bộ Chính trị. Trong Nam thì khai tử nhóm Câu Lạc bộ những người kháng chiến bằng cách bỏ tù Nguyễn Hộ và hàng loạt những người như Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu..

Đọc Đỗ Trung Hiếu: Những người kháng chiến cũ, Lý tưởng và thực tế, tài liêu của Tin, Paris 1995 . Đây mới là tài liệu quý báu và hiếm cần đọc
Cơ may đổi mới toàn diện như Đông Âu không còn nữa! Cộng sản vẫn là cộng sản!

Phần Nguyễn Văn Linh đã sợ hãi củng cố quyền lực để cứu nguy cộng sản VN.

- Thứ ba, theo tôi đây là thời điểm thuận lợi để chọn lựa con đường hợp tác với các nước như Mỷ, Nhật và các nước trong vùng Đông Nam, lánh xa Tầu. Có vẻ họ đã không dám làm, không dám quyết định. Một tin mới nhất cho biết báo chí trong nước nay được phép nhìn nhận các chiến sĩ VNCH là những người đã can đảm hy sinh để bảo vệ Trường Sa và Hoàng Sa.

Cho nên, đối với tôi, không dứt khoát giải quyết được vấn đề cộng sản, sẽ không giải quyết được vấn đề gì cả. Nó sẽ chỉ kéo dài những tranh cãi triền miên giữa kẻ thắng người thua không đi đến đâu cả. Phải can đảm biết nhìn sự thật, can đảm chia xẻ những ý kiến khác mình. Nó còn khò hơn “ phá rào” về kinh tế. Bởi vì dám nhìn nhận sự thật thì đồng nghĩa với xóa bỏ những hy sinh thường cho là cao đẹp, là lý tưởng.

Người cộng sản vẫn thường rêu rao: Mục đích tối hậu của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai là “giải phóng” miền Nam khỏi tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược. Vậy mà chỉ bằng một luận cứ về lịch sử nước Nhật trong thế chiến thứ hai, một cậu sinh viên trong nước đã dễ dàng bẻ gẫy mục đích “giải phóng” cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai này. Cậu cho rằng viên tướng Mỹ thay vì là kẻ thú của nhân dân Nhật trở thành một trong 12 người có công lao lớn với nước Nhật.

Điều gì nước Mỹ đã làm ở Nhật thì cũng làm như thế ở Âu Châu, nhất là ở Đức. Không có nước Mỹ, người Mỹ, liệu Âu Châu và Nhật Bản có được cái vị trí kinh tế, chính như hiện nay? Và điều gì nước Mỹ đã làm được ở Nhật thì cũng đã làm được ở Đại Hàn và tại sao không ở Việt Nam? Những nước vệ tinh của Trung Quốc như Việt-Mên-Lào, nhất là Bắc Hàn, số phận hiện nay ra sao? Và nhất là tương lai ra sao trước đe dọa bá quyền của Trung Quốc? Phải có can đảm đổi hướng chính trị nhìn ra Thái Bình Dương thay vì dựa lưng vào đất liền!!

Tôi tự lấy làm xấu hổ vì thua trí một sinh viên năm thứ hai đại học.

Danchimviet. Info, 30-12-2012: sinh viên phản ứng về bài giảng lịch sử: Đế quốc Mỹ xâm lược của một sinh viên năm thứ hai khoa học xã hội, Sài gòn . Nhưng tâm thức ấy được những người trí thức như Dương Thu Hương, Bùi Tín nhận thức ngay ra được khi tiếp thu miền Nam. Một người viết đến Những thiên đường mù, một người viết Mây mù thế kỷ. Và 15 ngày sau khi vào miền Nam, TBT Lê Duẩn cũng nhận ra cái sự ưu thế của nền kinh tế miền Nam so với miền Bắc như thế nào.

“Hơn bao giờ hết, tôi thấy rõ đường đi của thời gian đang lướt qua khung trời. Như vệt đuôi sao chổi. Chúng xóa đi từng thời khắc của cuộc đời. Chúng xóa đi mà trí nhớ của con người lại không xóa nổi. Nhưng dĩ vãng chỉ là dĩ vãng. Những đồng tiền âm phủ không tiêu được trong phiên chợ trần ai. Tôi sẽ xin với vong linh cô tôi cho tôi bán nhà. Tôi phải đi. Ý muốn của những người quá cố chỉ có giá trị như những vòng hoa trang trí trên các nấm mồ. Không thể tiêu phí cuộc sống bởi những cánh hoa tàn héo, những tối tăm lầm lạc của quá khứ mà phải hướng tới ngày mai”.
Dương Thu Hương, Những thiên đường mù, trang 284

Bùi Tín khi viết Mây mù thế kỷ, trong lời tựa đã viết:

“ Cuốn sách này, qua một số cuộc đối thoại bổ ích, có ước vọng giải tỏa đôi chút những mây mù còn tồn tại trong nhận thức của xã hội Việt nam ta. Ước mong của tác giả là đất nước Việt nam thân yêu trong thời gian cuối cùng của thế kỷ 20 này rũ bớt được những điều mơ hồ để nhìn nhận quá khứ, thấy rõ con đường tương lai, thanh thoát đi vào thế kỷ 21 đầy hứa hẹn”
Bùi Tin, Mây mù thế kỷ, trích trong lời nói đầu của tác giả.

Lời ước mong của Bùi Tín hiện nay vẫn chỉ là một ước mơ hay một hiện thực?

Trần Mạnh Hảo, từ rừng Lộc Ninh vào đã viết cảm tưởng của ông như sau :
« Ngày 30/4/1975, từ rừng Lộc Ninh về Sài Gòn, chưa kịp hoàn hồn, tôi đã bị Sài Gòn đánh chiếm bằng văn hóa, bằng văn học, bằng sách vở, âm nhạc. Phạm Duy và Trịnh Công Sơn đã tái chiếm tâm hồn tôi; và hình như tôi, đã tự nguyện quy hàng thứ âm nhạc, thứ văn học, văn hóa mà chế độ mới đang kết án, cho là văn hóa phản động, đồi trụy. Các loại sách dịch gần như vô tận của Sài Gòn còn sót lại sau đại họa đốt sách của chế độ mới đã xâm lược đầu óc tôi, giải phóng tôi thoát khỏi ngục tù của dốt nát, của u mê, của cuồng tín ngớ ngẩn một thời, “bắt” tôi vào trường tự nguyện “học tập cải tạo” đến giờ chưa chịu thả ra »
Trần Mạnh Hảo, Phạm Duy còn đó .. muôn đời

Người cầm bút có trách nhiệm không thể để nhà nước cộng sản Hà Nội tiếp tục tuyên truyền sai lạc về mục đích cuộc chiến này cũng như tiếp tục bôi xấu xã hội miền Nam, tiếp tục đánh bóng, lý tưởng hóa cuộc chiến 1954- 1975, khoác cho nó những lý tưởng huyễn hoặc mà thực chất không phải là như vậy.

Ý tưởng then chốt về mục tiêu cuộc chiến thường được cổ vũ: Đây là cuộc chiến tranh nhằm ”Giải phòng” miền Nam, đánh đuối đế quốc Mỹ xâm lược. Từ Giải phóng miền Nam là một tuyên truyền huyễn hoặc hay nó mang nội dung cụ thể và trung thực? Kẻ đến giải phóng thật sự là giải phóng hay xâm lược? Giải phóng cái gì? Giải phóng ai? Ai cần được giải phóng?

Ký giả Teziano Terzani là một trong những ký giả có chứng kiến những chiếc xe tăng T.54 cán sập đổ dinh Độc Lập. Ông đã ở lại miền Nam hơn 3 tháng để chứng kiến cuộc chiến thắng của miền Bắc và sau đó đã viết cuốn sách ca tụng miền Bắc nhan đề : Giải Phóng. Một năm sau, ông đã quay trở lại và ông đã thất vọng. Khi cho tái bản cuốn sách lần thứ hai, ông đã đổi nhan đề cuốn sách.

Teziano Terzamie là ký giả người Ý duy nhất có mặt khi thất thủ Phnon Penh ở Cao Mên và Sài gòn 30 tháng tư. Khi rời Sài gòn sau 3 tháng đi quan sát, ông viết cuôn sách: Giai Phong, The Fall and Liberation of Saigon .. Một năm sau sang lại VN, ông rất thất vọng và khi tái bản sách, ông đổi lại nhan đề là: Three days and three months, Sai gon 1975. The Fall of Saigon.

Có lẽ vì thế từ đây cần nên xác định tên cuộc chiến.

Nếu nhìn nhận những người lãnh đạo từ hai phía- phía cộng sản có Nga và Tàu đỡ đầu – phía Quốc gia có Mỹ và các đồng minh- thì đây là cuộc chiến ủy nhiệm do một tranh chấp giữa hai ý thức hệ. Nếu miền Nam là Ngụy, là bù nhìn của Mỹ thì miền Bắc là gì dưới cái dù của Nga và nhất là Tàu. Nếu gọi miền Nam là bọn lính đánh thuê thì bộ đội miền Bắc từ một đôi dép cũng do viện trợ của Tàu thì phải gọi bộ đội miền Bắc là chiến sĩ chăng? Thật là mỉa mai!!

Những đại bác 130 ly, hỏa tiễn Sam1 và 2, xe tăng T.54 viện trợ của Liên Xô, ngay một đôi dép râu là viện trợ của Trung Quốc xuất phát từ Hà Nội vào miền Nam thì không thể nói đó là giải phóng được. Nhân danh cái gì để nói là giải phóng? Nó chỉ là sản phẩm cuộc chiến tranh lạnh xuất hiện sau thế chiến thứ hai giữa hai siêu cường Nga và Mỹ.

Cuộc chiến chống thực dân Pháp do những người như Phan Bội Châu, rồi Phan Châu Trinh mang nặng sắc thái dân tộc chủ nghĩa, đượm tình tự lòng yêu nước. Nó cao đẹp, trong sáng và lý tưởng và vận động được sức mạnh của toàn thể nhân dân VN. Nhưng từ chủ nghĩa yêu nước nó dần mặc áo cộng sản và nhân danh nò, Hồ Chí Minh tiến hành chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, dưới sự trợ giúp không điều kiện, “vô tư” cuả Liên Xô và nhất là Trung Quốc.

Ai cũng biết như thế và nhìn nhận như thế mà không cần phải dài dòng biện luận và tranh cãi.

Tôi không thể nào hiểu được khi những cảnh chết chóc do chiến tranh gây ra trong trận Mậu Thân, nhất là ở Huế năm 1968, rồi trong cuộc chiến 1972 mà xác người chết sình thối không kịp chôn, tôi không thể chấp nhận một cuộc giải phóng man rợ như thế về mặt tình tự con người.

Tôi xin những ai là kẻ chiến thắng tự hào về cuộc chiến đọc những dòng này của Phan Nhật Nam trong Mùa hè đỏ lửa nơi mà ông viết lại như sau:

“Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy … Mùa hè năm 1972, mùa hè máu, mùa hè của sự chết và tan vỡ toàn diện, mùa hè cuối đáy điêu linh.

Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đầy…!!

Cộng quân chơi trò chơi máu, mở đầu những ngày hè đỏ lửa, trận cuối cùng đã kết thúc 12 năm chiến tranh ” giải phóng” đã cạn lực!! (5)

Phan Nhật Nam, Mùa hè đỏ lửa, từ trang 7 và tiếp theo!

Ở một chỗ khác, PNN mô tả cảnh tượng của cuộc chiến ở mức độ tàn bạo không bút mực nào tả xiết, nó vượt sự chịu đựng của con người. Ông viết:

“Tôi đang ở cây số 9 từ Quảng Trị kể đến, vùng thôn Mai Đẳng, xã Hải Lâm. Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói, khóc, la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ môi chảy máu tươi, tay luống cuống mắt mờ nhạt, mũi phập phồng.. (..) Tôi không còn là người đang sống vì sống là sống cùng với người sống, chia sẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Chung quanh tôi, trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí – chết. Phải chỉ có sự chết bao trùm vây cứng. Chỉ có nỗi chết đang phơi phới bừng bừng che kín không.

Phan Nhật Nam, Mùa hè đỏ lửa, trang 173!

Về phía kẻ thắng cuộc thì xin quý vị đừng vội say máu chiến thắng. Tỉ lệ về số thương vong là từ 5 xác chết của kẻ thắng đổi lấy một của kẻ thua. Lẽ thắng thua như thế quả là tương đối và chênh lệch!

Nó giống như trong film We’re soldiers(Chúng ta đều là những người lính) trong đó chỉ còn là cảnh hoang tàn đỗ vỡ, chết chóc và chỉ còn lại viên sĩ quan ngồi một mình tự nhủ thầm: Kẻ cuối cùng còn ở lại là kẻ thắng trận!!

We Were Soldiers is a 2002 war film that dramatizes the Battle of Ia Drang on November 14, 1965. The film was directed by Randall Wallace and stars Mel Gibson. It is based on the book We Were Soldiers Once… And Young by Lieutenant General (Ret.) Hal Moore and reporter Joseph L. Galloway, both of whom were at the battle

Nhìn kẻ thua trận mà buồn cho cuộc chiến tranh tương tàn nhưng nhìn sang phía kẻ thắng trận, mức độ tàn khốc còn gấp đôi, gấp ba.

Nhà báo Oriana Fallaci đã đi quan sát trận địa Khe Sanh ngay sau khi chiến cuộc vừa chấm dứt cho biết: toàn bộ sư đoàn 325, niềm tự hào của tướng Giáp đã biến mất dưới những trận mưa bom của Mỹ và được gọi là:” Điện Biên Phủ thứ hai”!!

Và nhóm 50 người đầu tiên của đại đội Delta của Mỹ đã tới được những giao thông hào và ở đó người ta tìm thấy hàng chục khẩu moóc chê để lại, những dàn phóng rốc két, rồi liên thanh hạng nặng, những cái nón do Liên Xô chế tạo, thùng còn đầy đạn, nhiều ba lô và 400 cái xẻng mới ..”

Trích Oriana Fallaci La vie, la guerre et puis rien …trang 241

Thắng nỗi gì, hãnh diện nỗi gì!! Dương Thu Hương nhắc lại số học sinh lớp 4 học cùng thời với bà, sau chiến tranh chỉ có hai người sống sót trở về!! Thế được gọi là chiến thắng, là giải phóng ! Nó ứng với cái cảnh mà một thi sĩ Trung Hoa đã ngao ngán viết về hình ảnh sau cuộc chiến:” Nơi vó ngựa chiến đi qua, 10 năm sau, cỏ chưa mọc và gió thổi còn mang mùi máu”.

Vậy mà mỗi năm, những người thắng trận vẫn nhảy múa, vẫn kỷ niệm, vẫn hãnh tiến bên cạnh những xác chết đã thối rữa từ hai phía. Đối với những người từng là thù địch với nhau đã lần lượt không còn nữa. Và đối với họ ý nghĩa được thua trở thành vô nghĩa. Cái chết đã đem lại sự an nghỉ tuyệt đối bình đẳng cho hết mọi người.

Nếu bi kịch còn để lại cho trận chiến này thì là hình ảnh những người còn ở lại như các bà mẹ, người vợ, người con. Xin gợi ý câu nói của Jules Roy như sau: Đối với một bà mẹ, không có lý tưởng tốt xấu, có chăng chỉ là những niềm thương của một người đối với người đã khuất”

Jules Roy, Bataille de Dien Bien Phu, nxb Julliard, 1963. Trích tóm lược trên Hành Trình, tháng 5-1965, bản dịch của Nguyễn Vũ Văn

Tôi vẫn có xu hướng nhìn cuộc chiến tranh vừa qua dưới lăng kính Nhân Bản, tình người.

Nếu nhìn từ phía những người trong cuộc thì đây là cuộc nội chiến giữa người Việt-người Việt, giữa miền Bắc và miền Nam.

Marilyn B. Young thì như phần đông giới chức Mỹ gọi chiến tranh Viet Nam là: The Viet Nam wars. Trong đó ông gộp chung cả hai cuộc chiến làm một.

Marilyn B. Young, The VietNam wars 1945-1990

Còn lại những người Mỹ khác gọi vắn tắt là Viet Nam, nhưng có thêm phụ đề theo điều mà họ muốn nhấn mạnh như John Prados vỏn vẹn dùng chữ: Viet Nam, The History of an Unwinnable war, 1945-1975, David G. Marr: Viet Nam, 1945, The Quest for power, Stanley Karnow, Viet Nam, A History, Lewis Sorley, A better War, Stein Tonnesson, Viet Nam, 1946. Christian G. Appy, Th Patriots, Viet Nam war.

Một trong những lý do người Mỹ chỉ dùng một chữ Viet Nam để chỉ chiến tranh Viet Nam, bởi vì chưa hề bao giờ có sự tuyên chiến rõ ràng giữa Mỹ và Hà Nội như trong trường hợp chiến tranh giữa Mỹ và Nhật sau trận Trân Châu Cảng. Vì không có sự tuyên chiến nên có thể có những rắc rối về chính trị, về viện trợ, về sự có mặt của quân đội ngoại quốc và vấn đề các tù binh bị bắt giữ giữa hai bên.

Nhưng đấy chỉ là nói lý thuyết, vì trước đây khi chiến tranh Cao Ly xảy ra thì làm gì có sự tuyên chiến giữa Trung Cộng và Mỹ?

Gần đây nhất, tiến sĩ Nguyễn Thị Liên Hằng đã thẳng thừng viết một cuốn sách nhan đề Hanoi’s war. Cô đi lại từ đầu từ hồi tập kết ra Bắc, Lê Duẩn đã ở lại miền Nam để tiến hảnh tiếp tục cuộc chiến.

Đây là một tên gọi mới không thể bỏ qua dựa vào chứng cứ có, dựa vào tính cách chủ động. Cuộc chiến ấy khởi động từ miền Bắc vận dụng sức người, sức của để xâm chiếm miền Nam như: Vấn đề tập kết ra Bắc và cài người ở lại, khai thông mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh. Trận đánh ở Khe Sanh, Chiến dịch Tổng công kích và tổng nổi dậy 1968, trận đánh “ Mùa hè đỏ lửa” 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Về măt chính trị là các Nghị quyết của Đảng cộng sản, việc dựng lên MTDTGPMN và mục đích của Hòa Đàm Ba Lê năm 1973.

Hay nói theo kiểu muốn dung hòa cả hai bên, theo đề nghị của giáo sư Lê Xuân Khoa gọi đây là Chiến tranh Việt Nam.

Lê Xuân Khoa, 30 năm gọi tên gì cho cuộc chiến, 15-2-2005 BBC. Để phản bác lại ý kiến của GS Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hòa viết bài phản biện: Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật?

Phần tôi, xét theo thứ tự thời gian, tôi chỉ thấy một sự nối dài về ý đô muốn nhuộm đỏ hóa đất nước VN. Trong giai đoạn chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, kể từ khi Mao Trạch Đông thống nhất nước Tàu vào năm 1949 thì cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp đã đổi hướng, đã khoác bộ áo cộng sản Quốc tế. Sang đến cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai thì thường hai miền rõ ràng không chỉ nhất thời phân chia địa lý bởi dòng sông Bến Hải. Ông Hồ Chí Minh ở ngoài Bắc tiêu biểu cho ngọn xung kích của cộng sản Quốc tế . Ông Ngô Đình Diệm tiêu biểu cho “một tiền đồn” chống cộng sản của thế giới tự do.

Phía cộng sản, theo ông Nam Đình, TBT đảng cộng sản Trường Chinh từng tuyên bố vào những năm đầu cuộc kháng chiến như sau:

“Kháng chiến Việt Nam là một hình thức cao rộng của giai cấp đấu tranh, nghĩa là một cuộc đấu tranh lớn lao trên toàn thế giới và vô sản thế giới, tức quốc tế cộng sản”.
Hồi Ký Ký 1925-1965, Nam Đình, trang 83-84.

Phía VNCH thì như lời nhận xét của Marilyn Young:

“Việt Nam (chỉ miền Nam) là con cờ Domino và nếu nó bị đổ xuống thì sẽ biến Thái Bình Dương thành cái hồ của Sô Viết và ngăn chặn những nguyên vật liệu có tác dụng sống còn cho Hoa Kỳ và đồng minh của họ”.
The Viet Nam wars 1945-1990, Marilyn Young, trang 29

Dụng ý của Marilyn Young kết hợp hai cuộc chiến tranh làm một là có cái lý của nó. Nếu cần phải phân biệt thì chia cuộc chiến đó làm hai giai đoạn. Và tại sao gọi là chiến tranh Đông Dương bởi vì cả hai lần đều có sự dính dáng hai nước Lào và Campuchia trong đó. Không có Lào, không thể có đường mòn Hồ Chí Minh. Không có Cao Mên, không có hậu phương dùng làm chỗ tựa cho cục R, cho MTGPMN vv.. Cả hai nơi, người Mỹ và VNCH đều mở những cuộc hành quân sang đánh tận sào huyệt của quân đội cộng sản Bắc Việt.

Vai trò bù nhìn của MTGPMN

Một trong những chính sách của Hà Nội trong việc tiến hành xâm chiếm miền Nam là việc dựng lên MTGPMN. Chiêu bài người miền Nam nổi dậy chống Mỹ-dù thực tế không hề có- đã lừa được cả thế giới.

Trong chiến dịch Tết Mậu Thân, Lê Duẩn đã phạm phải một lỗi lầm quan trọng. Chiến dịch mang tên: Tổng công kích và tổng nổi dậy. Tổng công kích thì có, nhưng tổng nổi dạy thì không. Đây là bài học thứ nhất mà Lê Duẩn học được trong một tính toán liều lĩnh, chủ quan với rất ít cơ may đạt được. Và trong dịp Tổng tấn công, lực lượng địa phương đã bị quân đội miền Nam quét sạch.
Tham vọng chiếm được Sài gòn của Lê Duẩn hoàn toàn thất bại.
Tướng Trần Văn Trà sau này có trách các lãnh đạo miền Bắc là không để cho các lực lượng võ trang ở miền Nam có đủ thì giờ để chuẩn bị cuộc tán công Tết Mậu Thân một cách tương xứng.

Đi lại đoạn đường đã qua bắt đầu là đám trí thức trong MTGPMN. Trí thức miền Nam tiêu biểu có thiện cảm với MTGPMN thuộc đủ loại nay dần dà phủ nhận cái quá khứ của mình. Họ có khoảng chừng tất cả trên dưới 30 người. Chỉ với 30 người ấy, người cộng sản đã dựng nên cả một Mặt trận đại diện cho 15 triệu người miền Nam và được thế giới nhìn nhận như một thực thể chính trị có khả năng ngồi vào bàn Hội Nghị. Trong cuộc thương nghị ở Paris, CPCMLTCHMNVN đã chính thức là một thành viên, một bên thương lượng. Mà thực chất họ chẳng đại diện cho ai. Họ chỉ có cái danh xưng và như những hình nộm, những con cờ thí đánh lừa dư luận thế giới.

Sau 1975, vai trò của họ trở thành thừa thãi và bị loại bỏ một cách không nhân nhượng, không thương tiếc, không bàn cãi.

Trong MTGPMN có Luật sư Trịnh Đình Thảo(1901-1982), vợ là Liên Hoa Ngô Thị Phú, người Sóc Trăng. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Ông Lâm Văn Tết. Hoài Hương, Nguyễn Khắc Vỹ. Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Đăng Trừng. ông bà Phú Hữu Nguyễn Thạnh Cường, Lê Văn Giáp, Dương Kỵ, Thanh Lan Võ Ngọc Thành, Nguyễn Văn Bửu, Hồ Văn Bửu, Nguyễn Hữu Khương, Lucien Phạm Ngọc Hùng.

Lucien Phạm Ngọc Hùng là anh của đại tá Phạm Ngọc Thảo. Sau khi đại tá Thảo bị giết, Phạm Ngọc Hùng vốn là một thương gia cùng với Cao Văn Bổn và và Nguyễn Hữu Khương đã bỏ trốn ra bưng theo MTGPMN.

Ngoài ra còn có Trần Thiện Tứ, Lê Quang Lộc. Bác sĩ Phùng Cung và vợ Lê Thoại Chi. Giáo sư Nguyễn Văn Kiết. Nhà văn Thanh Nghị. Ông Trần Kim Bảng, bút hiệu Thiên Giang. Giáo sư Nguyễn Văn Chi. Chánh án Phạm Ngọc Thu. Dược sĩ Hồ Thu. Kỹ sư Cao Văn Bốn . Kỷ sư Tô Văn Cang. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Lữ Phương.v.v.

Xem thêm Lữ Phương, Những chuyến ra đi, trên web Viet-studies.

Hơn ai hết, Lữ Phương cảm thức được vai trò bù nhìn của mình. Ông viết:
Sự tồn tại của Liên Minh như vậy chỉ là vở kịch cách mạng do Đảng giàn dựng với những diễn viên được lựa chọn và phân vai hết sức kỹ càng. Những nhân vật không cộng sản hết sức rõ rệt như Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết, Nguyễn Văn Kiết, Lê Văn Giáp.. đã được đưa lên như những ngọn cờ, trong khi đó những chức vị khiêm tốn nhưng là nồng cốt qua đó bảo đảm cho việc thực hiện chủ trương của Đảng thì lại giao cho những đảng viên được gài vào( như Tôn Thất Dương Kỵ và những đảng viên khác ..

Lữ Phương, Ibid

Phần Trương Như Tảng đã viết lại kinh nghiệm bị phản bội của Mặt trận như sau:

“At last, when our patience had almost broken, the Vietcong units finally appeared. They came marching down the street, several straggling companies, looking unkempt and ragtag after the display that had preceded them. Above their heads flew a red flag with a single yellow star- the flag of the Democratic Republic of North Viet Nam.
Seing this, I experienced almost physical shock. Turning to Van Tien Dung who was then standing next to me, I asked quietly, Where are our divisions one, three, five, seven and nine.

Dung stared at me a moment, then replied with equal deliberateness: The army has already been unified. As he pronounced these words, the corners of his mouth curled up in a slight smile.(..) We knew finally that we had been well and truly sold.

Since when I demanded. There’s been no decision about anything like that”
Trương Như Tảng, A Viet cong memoir, trang 264-265.

Nghe câu chuyện này, nhà văn Vũ Thư Hiên chỉ cười vì một đứa trẻ ở miền Bắc cũng biết đây chỉ là trò bịp bợm.

Ngoại trừ một vài đảng viên cộng sản như Huỳnh Tấn Phát và vợ là Bùi Thị Nga, bà Nguyễn Thị Bình, nhà văn Thanh Nghị và Lê Hiếu Đằngvv… Ai là người trong Mặt trận còn tiếp tục đi theo đảng cộng sản?

Trương Như Tảng là một trong những người đã dứt khoát, liều chết ra đi và ngồi viết sách A Viet cong memoir,1985. An inside Account of the Viet Nam war and the aftermath.

Thứ đến là bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và chồng Huỳnh Văn Nghị, sau 1975 đã chính thức xin ra khỏi đảng. Mãi 10 năm sau,đơn xin mới được chấp nhận. Khi được Stanley Karnow phỏng vấn trong chương trình Việt Nam, a history về sự thất bại của đảng cộng sản VN, bà cho hay như sau:
“I have been a Communist all my life, but now I’ve seen the realities of the Commnism, and it is a failure, mismanagement, corruption, privilege and repression .. My ideals are gone .(Tôi đả suốt đời đi theo đảng cộng sản, nhưng bây giờ tôi đã nhìn ra bộ mặt thực của chủ nghĩa cộng sản. Và đó là một thất bại, một quản lý tồi, tham nhũng, độc quyền và sự đàn áp. Lý tưởng của tôi không còn nữa
Trích Vietnam television History, Stanley Karnow, phần phỏng vấn bác sĩ Dương Quỳnh Hoa.

Và trong một lần trả lời phỏng vấn tờ Far Eastern Economic Review, người phỏng vấn đã hỏi bà:

Quel est l’évènement le plus marquant pendant les 50 annees passees (Biến cố nào được coi là đặc biệt quan trọn trong 50 năm vừa qua). Bà đã trả lời:

L’effondrement du mur de Berlin qui met un terme à la grandeur illusion. ự Sự sụp đổ của bức tường Bá Linh đã chấm dứt một ảo tưởng lớn(27)

Thật vậy, ngày nay rõ ràng Chiêu bài MTGPMN là một chiêu bài bịp, che đậy thực chất của cuộc chiến tranh! Tiến sĩ Nguyen Thi Lien Hang , giáo sư đại học North Carolina đã trình bày thực chất cuộc chiến tranh ấy. Bà gọi là Hanoi’s war quả không hẳn là sai. Cuộc chiến tranh ấy được lãnh đạo từ Hà Nội và là căn cứ hậu cần cung cấp người và võ khí thông qua đường mòn Hồ Chí Minh để tấn công miền Nam. Cho nên, tôi xác nhận đã nhìn trên chương trình Viet Nam Television History lá cờ hai mầu đỏ,xanh, giữa có ngôi sao vàng-cờ của MTGPMN cắm trên chiếc xe tăng phá cửa dinh Độc Lập. Nhưng cắm một lá cờ mầu xanh trên các xe tăng T.54 tiến vào dinh Độc Lập thì không có nghĩa là có thể thay đổi được tên cuộc chiến.

6 sư đoàn binh đội cộng sản đang bao vây Saigon với xe tăng của Nga là bằng chứng hiển nhiên nhất.

Vả lại lá cờ MTGPMN được cắm trên các xe tăng tiến vào dinh Độc lập sáng 30 -4 và lá cờ mầu xanh-đỏ ấy cũng được treo trên nóc Dinh Độc lập chẳng bao lâu sau đã tự động biến mất. Màn kịch diễn đã xong, sự có mặt của MTGPMN là một điều thực sự thừa thãi với ba thành phần chính phủ. Nó là một bằng cớ tố cáo thực chất cuộc chiến tranh dơ bẩn ấy. Nó phải biến đi càng sớm càng hay với lệnh miệng của Tố Hữu: Anh Ba muốn thống nhất ngay- một hình thức xóa sổ MTGPMN.

Tôi cũng đã nghe và nhìn rõ đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như tướng Trần Độ trả lời về chiến dịch Tổng tấn công và tổng nổi dậy trong dịp Tết Mậu Thân. Mặc nhiên điều đó cho thấy có sự nhìn nhận về sự chỉ đạo chiến tranh từ miền Bắc. Tôi cũng nhìn rõ hai sĩ quan cộng sản miền Bắc trả lời chương trình truyền hình của Mỹ. Một là Đặng Xuân Tèo là người có nhiệm vụ chiếm đánh đài phát thanh Sài gòn trong dịp Tết Mậu Thân. Hai là đại úy Trần Đình Thông là người tham dự trận Khe Sanh. Tôi cũng đã nghe và nhìn rõ hai bộ mặt tiêu biểu xứ Huế là bà Phạm Thị Xuân Quế( bác sĩ) và Hoàng Phủ Ngọc Tường( giáo sư) nói những lời biếm nhã về VNCH.

Nhất là tôi cũng nhìn thấy binh đội của cụ Hồ, mặc đồ trận rất khác lạ. Họ đều mặc quần sooc, người ngắn lủn củn vác súng chạy trong các đường phố Huế!! Tôi cũng nhìn thấy trên đài truyền hình của Mỹ ở trên cảnh tượng những mồ chôn tập thể đang dược đào bới lên ở nhiều địa điểm trong thành phố Huế!!

Phải châng đây là những con người sẽ đến giải phóng chúng tôi ra khỏi bọn Mỹ xâm lược? Trận chiến tranh Dông Dương lần thứ hai không phải là công việc của MTGPMN mà là cuộc chiến khởi động động từ Hà Nội. Đó chính là một thứ Hà Nội war như tiến sĩ Liên Hằng khẳng định.

- Vì thế, mục đích chính của Hiệp định Ba Lê không phải mưu tìm Hòa Bình, chấm dứt chiến tranh mà lá chiến lược là để cho Hoa kỳ rút lui và tình hình quân sự sẽ thay đổi sáu tháng sau. Chu Ân Lai đã nhiều lần khuyến cáo Lê Đức Thọ về điều ấy: “Zhou tried to convince his Vietnamese guest to negotiate seriously with the aim of reaching an immediate agreement, since the Americans were definitely on their way out of Southeast Asia. The Chinese leader repeated this advice to Le Duc Tho a few days later. “ The most important ( thing)is to let the Americans leave,” Zhou stated: The situation will change in six months or a year”.
Lien Hang .T Nguyen, Hanoi’s War, trang 297

Hiệp định Paris rõ ràng không nhằm chấm dứt chiến tranh và kiến tạo hòa bình. Nhưng là cách thức tiến hành chiến tranh nhanh chóng hơn, khốc liệt hơn, nhằm thôn tính toàn miền Nam của cộng sản. Kể từ sau Tết Mậu Thân 1968 đến 1972, hai bên Mỹ và Bắc Việt tiến hành cuộc Hội Đàm Ba Lê. Đó là giai đoạm vừa đàm vừa đánh. Trong giai đoạn này, trung bình phía cộng sản thiệt hại 500 binh sĩ/một ngày . Nhưng vẫn kiên trì trên hai khẩu hiệu : Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào. Năm 1969. Hồ Chí Minh chết mở rộng thêm tham vọng xâm chiếm miền Nam của Lê Duẩn. Không còn HCM, ai có thể ngăn cản được tham vọng của Lê Duẩn? Cuộc thanh lý nội bộ càng trở nên công khai và ác liệt.

Trong cuộc hòa đàm này, Xuân Thủy đề nghị ba điểm : Thứ nhất Hoa Kỳ rút quân ra khỏi miền Nam 30 tháng sáu/1971. Thứ hai một chính quyền mới ở Sài gòn không có Nguyễn Văn Thiệu, phó TT Nguyễn Cao Kỳ và thủ tướng Trần Thiện Khiêm.

Về phía Mỹ, đề nghị bảy điểm của Kissinger được phía bên kia như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Duy Trinh coi là nghiêm chỉnh. Đây là lần đầu tiên người Mỹ đưa ra một giải pháp toàn diện cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai trong đó chủ yếu có điều khoản : Người Mỹ sẽ rút ra khỏi chiến tranh Đông Dương, nhưng không có bao hàm một sự rút lui(mutual withdrawal) của cộng sản Bắc Việt.

Phía VNCH, qua Hoàng Đức Nhã cực lực phản đối điều khoản này .. Nhiều cuộc đi lại sang Sài gòn để thúc ép TT Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận. Đại sứ Mỹ, ông Bunker đã vào dinh Độc lập trực tiếp yêu cầu TT. Nguyễn Văn Thiệu thay đổi lập trường. Sự thay đổi có nghĩa là chấp nhận sự thỏa thuận giữa Kissinger và Lê Đức Thọ.

Trong một buổi họp, đại sứ Bunker đã hỏi ông Thiệu:
- « Vậy thì thưa Tổng Thống, «Đại sứ Bunker đặt câu hỏi, lập trường chót của Ngài là không ký phải không?

- Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi, Ông Thiệu đáp: «Tôi sẽ không ký và xin Ngài thông báo cho Tổng Thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở về Washington và nói với Tổng Thống Nixon rằng, tôi cần được câu trả lời».

Nguyễn Tấn Hưng, Tâm tư tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trang 335.

Và sau đây là lá thư áp lực, áp đảo tinh thần ông Thiệu nếu không chịu nhượng bộ: đảo chánh.

White House
Ngày sáu tháng 10, 1972
Thưa Tổng Thống
“.. Tôi yêu cầu Ngài cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968…”
Trân trọng
Richard Nixon

Nguyễn Tiến Hưng, Khi đồng minh tháo chạy, trang 90

Mặc dầu trong chuyến đi Bắc Kinh, Nixon đã viết thư trấn an ông Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 31 tháng 12, 1971 như sau:

Ngài có thể chắc chắn tuyệt đối rằng tôi sẽ không đi tới một thỏa thuận nào ở Bắc Kinh nếu nó phương hại tới các quốc gia khác, hoặc về những vấn đề có liên hệ tới các nước khác. Ngài có thể tiếp tục tin cậy vào sự yểm trợ của Hoas Kỳ trong những nỗ lực của Ngài hầu đem lại hòa bình cho Việt Nam và xây dựng nền thịnh vượng mới cho nhân dân Việt Nam.
Trân trọng
(kt) Richard Nixon

Nguyen Tiến Hưng, Ibid, trang 78

Nhưng thật ra ngay từ ngày 9 tháng bảy, 1971, Kissinger đã họp mật với Chu Ân Lai tại Bắc Kinh, báo New York Times ngày 28/2/năm 2002 sau này đã tiết lộ: Trong cuộc họp này, Kissinger đã nói với Chu Ân Lai:” Dù có thương thuyết hay không thương thuyết với BV đi nữa, rồi chúng tôi cũng rút quân ra một cách đơn phương”.
Nguyen Tiến Hưng, Ibid, trang 342

Truyền hình Mỹ cho thấy còn có mặt trận thứ hai đang diễn ra trên đất Mỹ. Có hàng triệu người Mỹ xuống đường kêu gọi chấm dứt chiến tranh và đem lính Mỹ về nước. Các thượng nghị sĩ Mansfield, Kennedy cũng lên tiếng ủng hộ quan điểm chống chiến tranh VN.. Nghĩa là có một cuộc chiến chống Mỹ ở Thượng viện Mỹ và ở ngoài đường phố phối hợp với nhau.

Bên cạnh đó thêm rắc rối cho chính quyền Mỹ với vụ án Trung úy Calley phải ra tòa án binh ngày 29/3/ 1971 được gọi là vụ án sát hại một số dân làng ở Mỹ Lai. Thật ra câu chuyện tàn sát này xảy ra vào năm 1968 khi một đon vị của viên sĩ quan này bị thiệt hại nặng trong việc càn quét Mỹ Lai .. Tức giận, Trung úy William Calley Jr đã tập trung tất cả đàn bà trẻ con và sát hại tất cả.

Đây là một tội ác chiến tranh không thể bào chữa được gây thêm công phẫn trong dân chúng Mỹ.
Mémoires Richard Nixon, trang 362

Chưa kể sự tiết lộ khoảng 7000 trang tài liệu bí mật về những quyết định của Ngũ Giác Đài về chiến tranh của Daniel Ellsberg trên tờ The Washington Post và tờ The New York Times. Daniel Ellsberg tỏ ra bi quan và tuyệt vọng về cuộc chiến tranh khi tiết lộ nhũng tài liệu bí mật này năm 1971.

Secrets: A memoir of Viet Nam and the Pentagon papers, Daniel Ellsberg
Rắc rối cuối cùng xảy ra một cách định mệnh là vụ Watergate, một scandal về chính trị trong vụ bầu cử Tổng thống Nixon. Ông Nixon đã đạt được 47.169 841 phiếu trong khi thống đốc Mc Govern chỉ đạt được 29.172 767 phiếu. Sau nhiều tháng tìm cách ém nhẹm vụ scandal không thành công. Phải nói rằng Nixon đã can đảm chống chỏi đến giây phút cuối cùng. Ngày mồng 8 tháng 8 năm 1974 là ngày cuối cùng của Nixon ở tòa Bạch Ốc ..46 người từng là bạn bè, đồng viện, phụ tá ông trong vai trò Tổng thống. Nhiều người từng có mặt với ông từ năm 1947, cùng chia xẻ những niềm hy vọng và cả những hoài bão sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Giây phút giã biệt thật dâng đầy cảm xúc và kỷ niệm. Cuối cùng Nixon và gia đình từ giã tòa Bạch Ốc và lên máy bay Air Foprce One trực chỉ Cali. Phải nói rằng Vụ Watergate đã làm thay đổi cục diện chiến tranh VN sau vụ từ chức của TT Nixon. Và nó cũng là nỗi bất hạnh cho Việt Nam.

Đọc những tài liệu liên quan đến Hòa đàm Paris cho thấy, Kissinger chịu hết nhượng bộ này đến nhượng bộ chỉ vì phía Mỹ muốn rút chân ra khõi VN.
Phía VNCH, một số thành phần phản chiến bị giật giây bởi cộng sản cũng hùa theo đòi hỏi chấm dứt chiến tranh một phía. Lê Duẩn ra lệnh cho cán bộ miền Nam tìm cách triệt hạ chính phủ «bù nhìn » (puppet) TT Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc bầu cử Tổng Thống sắp tới.

Nhưng trước khi đạt được Hiệp định Ba Lê, cộng sản Bắc Việt đã chịu đựng một trận mưa bom trên bầu trời Bắc Việt trong suốt 12 ngày đêm sau dịp lễ giáng sinh năm 1973.

Vậy mà có một số trí thức thành phần thứ ba sau 1973 đã ngớ ngẩn đứng ra thành lập cái được gọi là: «Tổ chức Nhân Dân đòi thi hành Hiệp định Paris năm 1973 ». Đứng đầu là luật sư Trần Ngọc Liễng với giáo sư Châm Tâm Luân, biện lý Triệu Quốc Mạnh. và cũng đừng quên tên linh mục cộng sản nằm vùng Huỳnh Công Minh.

Ngày nay nhìn lại mới thấy những người này là những tên hề chính trị- khờ khạo và xuẩn ngốc-. Châu Tâm Luân sau này đã tỉnh ngộ và đã cuốn gói ra ngoại quốc.

Nhưng tôi nghĩ rằng khi viết bài này, cách duy nhất để tôi khỏi sa lầy vào những công việc soi mói từng sự việc nêu ra của tác giả Huy Đức, rồi phản biện lại từng vấn đề của một cuốn sách. Đó là một công việc vừa tốn thời giờ vừa đi vào những tranh luận có thể triền miên không lối thoát.

Tôi chọn thái độ đứng về phía của một người thua cuộc- với tâm tình, với cảm nghiệm của kẻ bị xỉ nhục như hầu hết người dân miền Nam sau 1975.
Không biết đây là lần thứ mấy, mỗi khi nhắc nhớ lại những gì xảy ra sau 1975, tôi vẫn nhói lên nỗi đau như một vết thương chưa lành.

Và tôi phải nói thêm rằng càng bị xếp vào cái chỗ của một người quốc gia thua cuộc. Tôi càng thâm tín rằng mảnh đất miền Nam là một mảnh đất hứa đem lại cơm no, áo ấm, giá trị đạo đức, giá trị nhân bản giúp cho giới thanh niên chúng tôi ăn học trở thành những người hữu dụng, những trí thức Việt Nam ở trong nước và ở Hải ngoại. Miền Nam là cái nôi đầu đời giúp cho giới trẻ miền Nam biết sống tử tể và trang bị vốn kiến thức vào đời.
Hãy cứ nhìn thành quả sự hội nhập thành công nơi xứ người của những người di tản thế hệ thứ nhất. Đó là bằng chứng không chối cãi được cái gốc gác miền Nam của họ- cái hành lý họ mang theo không phải tiền bạc mà cái hành lý tinh thần!! (Bagage intellectuel).

Cho nên, không hãnh diện về gốc gác miền Nam, không thể viết bài này được.
Không hiểu thấu nỗi đau về cách đối xử thất nhân tâm của kẻ thắng cuộc thì không hiểu được tâm tình của 15 triệu con dân miền Nam. Ông Võ Văn Kiệt được coi là một người cộng sản hiểu biết và có lòng. Ông Kiệt cho rằng Ngày 30 tháng tư- “ngày giải phóng”- có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn.

Cám ơn trân trọng sự vỗ về và phủ dụ của ông. Nhưng xin phép không đồng ý về sự tổng quát hóa như thế. Nếu quả thực có triệu người vui thì không thể có hiện tượng 10% người dân miền Nam liều mình bỏ nước ra đi. Hằng triệu người bằng mọi giá, hy sinh cả tính mạng bỏ trốn ra nước ngoài.
Khi có một người phụ nử liều chết mang hai con, chèo thuyền ra biển và đến được Úc thì đấy là biểu tượng không chối cãi được chế độ ấy không thể sống chung được và nó cũng không có lý do để tồn tại mãi được!

Quyết định ra đi là một quyết định sinh tử vì biết không thể sống trong chế độ cộng sản. Bằng chứng rõ rệt như thế mà người ta vẫn tìm cách che dấu và bẻ quặt sự việc.

Mất nhà, mất cửa, vợ chồng cha con chia lìa-mất hết-mất cả sự sống, mất hy vọng, mất cả tương lai, bị hành hạ xỉ nhục đủ thứ bởi những người đi chân đất, chữ nghĩa không đầy một cái lá me thì vui sao được, vui ở chỗ nào.

Hãy chỉ cho tôi thấy có được một ngày vui nào trong những năm tháng ây?
Xin trích một đoạn trong một bài viết của tôi về cái ngày vui ấy như sau:

“Ngoài phố, chỉ còn nghe tiếng xích sắt khô khan của bánh xe nghiến trên mặt đường nhựa. Mặt đất như rung lên bần bật. Sài gòn như oặn mình dưới làn xích sắt đi qua. Tiếng xích sắt như nhắc nhở gợi về tiếng xích sắt của mùa xuân Praha năm nào. Cái mùa xuân nát úa. Cái mùa xuân hy vọng của tuổi trẻ Prague chưa kịp nhú lên thì đã bị xích sắt xe tăng của Hồng quân Liên Xô đè dập nát khi tiến vào Prague, trên những đường lát đá gồ ghề, thẫm màu đen thuở nào.
Praha, Sài Gòn, ngạo nghễ và tủi nhục.

Những chiến xa trên có cắm cờ của MTGPMN đang chạy trên đường Tự Do, Catinat cho người ta có có cảm tưởng đường Tự Do của miền Nam là đại lộ Champs-Elysées của Paris hồi nào. Nhưng Champs-Elysées của Paris vào tháng 8-1944 là cả một biển người đón tiếp De Gaulle. Biển người đó là nỗi vui mừng được giải phóng. Chỉ có tiếng cười và nước mắt hoan lạc.

Nhưng Champs Elysées thì không phải đường Tự Do ở Sài Gòn. Đường Tự Do không có nỗi vui hoan lạc mà chỉ có những ánh mắt lo âu và sợ sệt.
Nguyễn Văn Lục, Lịch sử còn đó, trang 320

Tôi hy vọng những quan điểm nhìn của chúng tôi khi nhìn lại cuộc chiến mở ra những viễn tượng trung thực về cuộc chiến, xóa tan những” mây mù thế kỷ” đã qua. (nhan đề một cuốn sách của nhà báo Bùi Tin). Nhờ đó tôi có cơ hội mở ra những góc nhìn gỡ rối, trung thực hơn mà ngay cả những người muốn hòa giải và đầy thiện chí – cũng không thể chia xẻ hết những nỗi oan khiên của người dân miền Nam được.

Hiện nay, nhiều người mong muốn xóa bỏ hoặc quên quá khứ để nghĩ tới tương lai nên mong mỏi một giải pháp nào để người Việt từ hai phía có thể ngồi lại.

Tôi cho là một ước vọng viển vông. Hai ý thức hệ ấy không cho phép họ ngồi lại với nhau được. Nói ngồi lại là gián tiếp người Quốc Gia phải chấp nhận chế độ cộng sản. Vì thể, chỉ có thể ngồi lại khi chế độ cộng sản không còn nữa hoặc tự giải tán.

Nhận xét sau đây của ông Võ Văn Kiệt xem ra sát thực tế hơn, khi được hỏi: Làm thế nào để làm lành vết thương chiến tranh?

-Ông Võ Văn Kiệt cho rằng một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui, mà cũng có hằng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó rỉ máu. Nhưng chính người cộng sản phải thực tâm khoan dung và hòa hợp.. Sau 30 năm, tôi thấy không dễ dàng làm cho mọi người Việt Nam cảm nhận được điều đó.

Trích Báo Quốc tế, do bộ Ngoại giao xuất bản đã đăng bài phỏng vấn ông Kiệt: Những đòi hỏi mới của thời cuộc, vào đầu tháng tư.2005. Trích lại trên diendan.org số 151, tháng 5.2005

Tôi tự hỏi hơn 30 năm chưa làm được sự hòa hợp thì bao giờ làm được? Triệu người buồn thì có, nhưng tôi không thấy triệu người vui là những ai?

Ngày hôm nay tư thế của hơn ba triệu người Việt di tản ra hải ngoại không phải còn ở cái tư thế bị thúc ép về chính trị, về an toàn sinh mạng cá nhân hay nhu cầu cơm áo nên cần phải ngồi lại, cần phải hòa giải. Có cái lý do gì thúc ép người Việt phải hòa giải?

Sau chiến thẳng, ho tự cho phép mình có quyền được chia phần thắng lợi coi như một thứ chiến lợi phẩm được thụ hưởng như nhà cửa, xe cộ, tiền bạc cũng như quý kim.

Sự thu tóm gần như được coi là một thứ ăn cướp công khai ở bình diện cá nhân cũng như cấp chính quyền các cấp từ địa phuong đến trung ương.

Những căn biệt thự đẹp nhất của Sài gòn trên các đường Duy Tân, Lê Lợi, Công Lý, Bà Huyện Thanh Quan, Tú Xương họ chiếm ngự. Tôi đã có lần đến thắp nén hương tại tư gia của ông Phó thủ tướng Vũ Đình Liệu tại đường Bà Huyện Thanh Quan hay Tú Xương không nhớ rõ, nhân dịp ông qua đời. Căn biệt thự nằm đối diện với biệt thự của ông Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ở phía bên kia đường, có tường cao, sân trải sỏi. Bà phó thủ tướng dẫn tôi đi coi căn biệt thự và chỉ cho thấy bà đã cho một tư nhân xây một trường Mẫu giáo quốc tế, cao ba tầng và họ được khai thác trong thời hạn 5 năm. Sau 5 năm, trường và tất cả cơ sở thuộc về bà. Bà biết rõ ràng trong tay bà đang nắm bạc tỉ, tỉ một cách danh chính ngôn thuận và hợp pháp.

Bà lả mẫu người đàn bà nhà quê hiền lành, chất phác. Bà không bao giờ có mảy may một ý tưởng trong đầu là kẻ mang danh giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ lại chính là kẻ cướp ngày được hợp thức hóa. Người Mỹ đến miền Nam chưa lấy một mét dất nào của dân miền Nam. Có điều gì cho phép kẻ thắng cuộc truất hữu mọi tài sản người miền Nam nhân danh một chủ nghĩa cộng sản?

Công lý ở đâu, luật pháp ở đâu, các ông không nhận thức được đó là sự ăn cướp hợp pháp được chế độ bao che.

Tốt hơn hết, chúng tôi xin dẫn một chứng từ của Đại tá Châu Thái Hùng trong cuốn sách của ông: Một cuộc đời đầy thử thách thể hiện đúng phong cách một kẻ chiến thắng tiêu biểu nhất .. Đọc cuốn sách với “một số tình tiết tiêu biểu cho một thời, tiêu biểu cho môt con người cộng sản sau 1975”.

Chúng ta hãy nghe ông đại tá kể lể :

Tôi là người đầu tiên tiếp quản quận 5 và được nhà nước cấp cho căn nhà tại đây. Vì thế, khi về hưu tôi vẫn tiếp tục ở trong địa bàn này và xử dụng căn nhà thuộc sở hữu của tôi để kinh doanh kiếm sống một cách hợp pháp theo đúng chủ trương của nhà nước. Các đồng chí nên nhớ rằng tôi đã tham gia cách mạng suốt đời, từng bảy lần bị thương đồng thời cống hiến biết bao công sức và xương máu cho sự nghiệp chung. Nay chẳng lẽ vì một chút lợi ích nhỏ mọn mà tôi lại bán rẻ danh dự, giá trị con người của tôi hay sao?

Nhờ thế lực của ông, ông kinh doanh mở khách sạn Mini kiếm sống và tiếp theo là một chuỗi các hoạt động kinh đoanh lớn nhỏ khác. Dân chúng bị cấm buôn bán làm ăn, nhưng ông thì được ..Ông rất tự tin và tự cho mình là người cách mạng chân chính.

Về già, ông quyết định bán căn nhà ông đang ở, số 9 Tăng Bạt Hổ. Nhà nước hóa giá là 250 triệu đồng vào năm 1991. Nhưng một năm sau nhà nước trả lại số tiền 250 triệu đồng.. Sau đó nhà nước hóa giá lại thì căn nhà trị giá đã tăng lên là 2 tỉ 4 trăm triệu đồng, gấp 10 lần giá cũ.

Hóa giá xong, ông cắn bụng gom tiền để thanh toán số tiền 2 tỉ 400 triệu đồng cho nhà nước, ông liền bán căn nhà đó ngay tức thì được 6 tỉ rưỡi thì chỉ hai tháng sau, giá nhà đã tăng lên 10 tỉ và một năm sau là 17 tỉ .. Người chủ mới xây dựng lại toàn bộ căn nhà và cho thuê mở nhà hàng với giá 60 triệu đồng/một tháng.

Trong giai đoạn đầu tiên khi vào chiếm miền Nam, sự làm giầu của các cấp lãnh đạo ở Hà Nôi là đầu cơ nhà cửa, mua đi bán lại .. Số tiên từ bạc triệu lên tỉ tỉ. Cứ thế mà họ phất lên!

Tiền bán căn nhà số 9 Tăng Bạt Hổ giúp ông đại tá mua một mảnh đất ở Bình Chánh để dường già .. Chúng ta có thể mường tượng căn nhà này lớn và giá trị thương mại như thế nào?

Chúng ta có nên làm một cuộc so sánh cuộc đời đi làm cách mạng và cuộc đời sau 1975 của ông đại tá không?

Ông có phải là biểu tượng của loại tư bản đỏ không?

Ông Huy Đức cũng như những người cộng sản đều thấy công việc làm của ông đại tá trên là điều rất tự nhiên đến không có gì để thắc mắc.

Nhưng người dân miền Nam không thể chia xẻ việc cướp đất, cướp nhà công khai như vậy.

Họa chăng ông đại tá chỉ có một thiệt thòi nhỏ trong nội bộ gia đình là ba của ông có nhiều tiền gửi ngân hàng của chính quyền ngụy, trước 1975. Nhưng sau đó bị nhà nước tịch thu sau 1975. Ông bố xót của oán trách cách mạng rồi giận lây sang ông con ” đi làm cách mạng”, nhưng ông vẫn chịu đựng tất cả và vẫn ân cần lo lắng cho cha của mình.

Trong Hồi ký, ông đại tá cũng kể cái việc tranh dành, bất đồng giữa giữa các đồng chí lãnh đạo địa phương với lãnh đạo Thành phố và Trung ương. Trung ương cử cán bộ các ban ngành vào tiếp quản. Khi vào đến nơi, cán bộ Trung Ương tiến hành tiếp quản những cơ sở và tài sản này … Một số người lợi dụng vị thế để trục lợi cho bản thân, tiếp quản 10, nhưng chỉ bá cáo một hai, số còn lại chia nhau làm của riêng.

Đồng chí Sáu Thơm, chủ tịch ủy ban nhân dân quận Năm không đồng ý với với cách làm của cán bộ Trung ương nên đề nghị họ tạm ngưng tiếp quản. Những người này liền phản ánh với đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Võ Văn Kiệt: “Sáu Thơm làm vua ở quận 5 và tác oai, tác quái”.

Cũng như nhiều đồng chí khác, sau khi có tiền, có nhà cửa khang trang, có xe, có tài xế, có người hầu người hạ thì nghĩ đến sắm “vợ ngoại”. Chỉ sau 2 tháng “giải phóng”, vào tháng 7/1975 ông đã kiếm được một phụ nữ ” góa chồng”, tên Thạch Thị Lang, đã có ba mặt con. Cứ theo lời ông mô tả thì đây là một phụ nữ đẹp mặn mà, là người rất đạo đức, lo lắng chăm sóc cho ông từng chút, tuy được nhiều người theo đuổi ..

Bà thương ông một cách chân thật, mặc dầu ông lớn hơn 18 tuổi, không vì địa vị hay tiền bạc .. Đó là điều đáng quý

Chẳng may bà lâm trọng bệnh và qua đời vào năm 2000. Con gái bà Lang hiện là một Việt Kiều hiện đang sống ở Mỹ. Xin viết lại đôi dòng với niềm trân trọng ..

Về việc ” vượt biên”, đây là dịch vụ làm giàu béo bở nhất của các quan chức chế độ mới. Vàng kiếm được không phải một vài trăm cây mà lên đến cả nửa tấn. Chủ tiệm vàng Kim Thành vượt biên bị bắt và bị tịch thu 800 lượng vàng, chưa kể kim cương, hột soàn vv..

Lúc còn sinh sống ở miền Bắc, vị nào có vài chỉ vàng chắt chiu hà tiện đã là quý lắm rồi. Nay có đến hàng vài trăm lạng là chuyện thường. Phải chăng đây là cái được của kẻ thắng cuộc?

Chúng ta hãy nghe ông đại tá viết trong Hồi Ký:

“Bọn tổ chức vượt biên mua chuộc cán bộ xã ấp và du kích để làm ngơ cho chúng, mà lúc bấy giờ thường gọi là “mua bãi”. Thông thường bọn chúng trả cho cán bộ xã ấp một lượng vàng cho hai người khách vượt biên. Trung bình mỗi chiếc tầu chở khoảng mấy trăm người, do đó số vàng thu được của mỗi chuyến vượt biên là rất lớn”
.

Nhiều lần các anh em đề nghị tôi nhắm mắt làm ngơ, đổi lại sẽ nhận được vài chục lượng vàng mỗi đêm, nhưng tôi cương quyết không chấp thuận mà luôn luôn ngăn cản, giáo dục và nhắc nhở anh em. Tại sao không bắt mà chỉ ngăn cản giáo dục? Giáo dục có ai nghe theo không ?

Thời gian sau tình hình còn diễn biến theo chiều hướng phức tạp hơn, đó là việc Bộ Nội vụ ra chỉ thị cho phép cơ quan công an các tỉnh được quyền tổ chức vượt biên. (Lúc bấy giờ gọi là đi “bán chính thức”).

Trong khi đó lực lượng Bộ đội chúng tôi không hề được thông báo nên cứ làm theo tinh thần: ” Những kẻ vượt biên là phản quốc, phải tích cực ngăn chặn “.

“Do vậy một bên thì ra sức cản trở, còn một bên làm ngược lại, vì thế mà có nhiều lúc xảy ra tình huống oái ăm. Chẳng hạn như chúng tôi được các anh em trinh sát báo cáo có chuyến vượt biên nên tập trung chặn bắt, không ngờ chuyến đó lại do lực lượng công an tổ chức: Thế là hai bên nổ súng vào nhau. Thật trớ trêu”.

Trích tóm lược Hồi Ký của Đại tá Châu Thái Hùng. Một cuộc đời đầy thử thách.

Nhưng dù sao cho đến thập niên 90, việc trưng dụng nhà cửa, việc tịch thu tài sản, việc vét túi những người vượt biên bán chính thức vẫn chỉ là những chuyện được coi là ” ăn cắp vặt” so với những vụ án làm ăn sau này tại các công ty quốc doanh hay các vụ chiếm đất đai.

Ngày hôm nay, sau 38 năm, Sài Gòn đã được “ giải phóng”, dân chúng đã được sống bao nhiêu ngày an vui?

Riêng những người Việt hải ngoại- những rác rưởi, những vật dư thừa ở thời điểm 1975 nay đã đạt được sự ổn định, an cư lạc nghiệp và có một tư thế chính trị quốc tế nơi miền đất cư ngụ- nhất là ở Mỹ.

-Về kinh tế, gần 10 tỉ đô la mỗi năm chảy về Việt Nam là con số đáng nể có tác dụng vực dậy nền kinh tế VN có dấu hiệu trên đà phá sản. Trong giai đoạn kinh tế đổi mới, phá rào. Kiều hối gián tiếp trở thành nồi cơm nuôi cả nước. Lợi tức trung bình giới công nhân VN là 1000 đô la/ năm so với lợi tức trung bình của người Việt là gần 20.000 đô la/ năm.

-Về mặt chính trị, tiếng nói của người Việt Hải ngoại là một thứ quyền lực mềm (soft power) có tầm ảnh hưởng trên các quyết định của các chính quyền địa phương nơi cư ngụ- nhất là nơi có đông cư dân người Việt. Càng ngày càng có thêm người Việt ý thức được vai trò của mình và tham gia vào chính quyền nơi địa phương mình ở. Chẳng hạn những quyết định công nhận là cờ vàng nơi một số tiểu bang Mỹ hay quyền không cho phép các hoạt động công khai của cộng sản nơi một số địa phương cũng như những thỉnh nguyện thư gửi chính phủ không phải là những việc làm không có ý nghĩa. Sức mạnh ấy có khả năng dập tắt mọi tham vọng xâm nhập vào cộng đồng người Việt nhằm chi phối, ảnh hưởng. Sức mạnh ấy cũng có tác dụng trực tiếp và gián tiếp trên những vi phạm quyền con người cũng như cảnh báo về nguy cơ mất đất, mất biển.

-Đã có khoảng trên dưới một triệu người Việt thành công nơi xứ người. Nó chẳng những tạo dựng một cộng đồng VN có uy tín và được kính nể mà còn có thể là tiềm năng sau này cho một VN đổi mới. Nhưng kẻ lúc ra đi năm 1975 dưới mắt kẻ chiến thắng chỉ là một thứ rác rưởi bị quăng ra biển nay trở thành thứ rác quí. Phải nhìn nhận trên 30 năm nay, kẻ chiến thắng vẫn chưa có khả năng thu phục một phần nhỏ nhoi những thứ rác quý nảy. Họ vẫn lãng phí tài nguyên chất xám này bằng những chính sách phủ dụ của một bàn tay sắt, bọc nhung. Họ vẫn muốn khai thác tối đa những lợi nhuận từ những người Việt này mà vẫn không có khả năng đưa ra một giải pháp hợp tình, hợp lý có tác dụng thu phục.

-Đối với thành phần trí thức và ưu tú nhất- nhất là giới trẻ trong nước- ở tư thế những người bất đồng chính kiến-, họ đang nỗ lực, can đảm tranh đấu cho một VN dân chủ và tự do vẫn thấy cộng đồng người Việt Hải ngoại là chỗ tựa tinh thần cho họ như một sự nâng đỡ, một cổ vũ và như nguồn hy vọng. Hằng trăm, hàng ngàn người trí thức trong và ngoài nước hiện nay đang tranh đấu cho một Việt Nam Tự Do, Dân Chủ thực sự khỏi chế dộ độc tài cộng sản. Có một sự chia xẻ và cảm thông giữa các thành phần tranh đấu trong và ngoài nước. Trào lưu tranh đấu ấy chắc hẳn còn đòi hỏi nhiều hy sinh, nhưng thực tế là có một nỗ lực chung, một lý tưởng chung giữa trong và ngoài nước như một đối lực mà chính quyến cộng sản không thể coi thường về diễn biến hòa bình này.

Trong sự tranh đấu hiện nay, quá khứ không thể nào quên mà như nhắc nhở tới những điều thực tế hiện nay. Tuy nhiên, phải nhận cho rõ rất nhiều người trẻ hiện nay đang tranh đấu, đang ngồi tù và sẽ tiếp tục ngồi tù không liên quan gì đến các hội chứng chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và nhất là lần thứ hai.

Họ lớn lên từ trong lòng chế độ ấy và sự chống đối của họ là nguyên chất và trong sáng hơn bao giờ hết.

Cho nên đến tận bây giờ, tôi thâm tín rằng còn nhiều điều để nói về cuộc chiến tranh vừa qua và nhất là quá nhiều điều để nói sau khi cuộc chiến đã chấm dứt. Chưa ai nói hết. Nói sai thì nhiều và cũng chưa một ai nói đủ.
Vấn đề không hẳn là tranh cãi với tác giả Huy Đức. Vấn của người Việt hải ngoại là với tư cách người thua cuộc phải lên tiếng để vạch ra những sai trái của kẻ thắng cuộc.

Đó là trách nhiệm của những người cầm bút bên phía những kẻ thua cuộc

Hết

© Đàn Chim Việt

13 Phản hồi cho “Tiếng nói từ những nạn nhân của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai [2]”

  1. quang phan says:

    Dùng đất nước làm tiền đồn cho phòng lũy của Thế Giới Cộng Sản, dùng dân tộc làm những tên lính đánh thuê cho xúy đồ thống trị thế giới của bọn đế quốc Trung-Xô, Hồ chí Minh- tên tay sai đắc lực của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Đảng – với chiêu bài giả hiệu ” Chống Mỹ Cứu Nước ” đã xô cả một khối dân tộc mê muội vào một cuộc chiến tồi tệ nhất trong lịch sử Viêt tộc :

    Hồ chí Minh: “Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một thành viên trong đại gia đình Xã Hội Chủ Nghĩa, đứng đầu là Liên xô vĩ đại. Chúng ta có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á và trên thế giới” (Hồ Chí Minh, Diễn văn khai mạc Đại Hội 3 của đảng Cộng sản Việt Nam, 1960 ).

    Trong ngày Lễ Lao Động 1-5-1924 ở Mạc Tư Khoa , Hồ chí Minh được xếp đứng trên khán đài danh dự cùng với các đại biểu Quốc tế Cộng sản sau Lá Cờ Đỏ thêu hàng chữ “Chúng Tôi Nguyện Đem Lá Cờ Của Người Đi Khắp Thế Giới”. Chữ Người của khẩu hiệu trên là Lênin, lá cờ là cờ Búa Liềm của Liên Xô, và khẩu hiệu trên là mục tiêu tranh đấu của Cương Lĩnh Lênin về vấn đề thuộc địa. (Bác Hồ Trên Đất Nước Lênin, Hồng Hà là chấp bút )

    Tổng bí thư Cộng sản Lê Duẩn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa” ( Đêm Giữa Ban Ngày – Vũ Thư Hiên ).

    Sau khi chiếm được Miền Nam, Lê Duẫn tuyên bố: “Chúng ta đã cắm ngọn cờ Mac Lê bách chiến bách thắng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Điều đó có nghĩa là “Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ do Quốc Tế 3 ủy nhiệm”.

    Bí Thư Thứ Nhất đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev: “Cuộc chiến này không chỉ vì tương lai của người dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đang đổ máu và xả thân cho Phong Trào Cộng Sản Thế Giới.” (Khrushchev Remembers, Nxb Little Brown, 1970 ).

    Tháng 9 năm 1963, trong dịp đi nghỉ mát ở Quảng Châu, Hồ chí Minh gặp thủ tướng Tàu Cộng Chu Ân Lai và Trần Nghị và phát biểu về quyết tâm chiến đấu ở miền Nam như sau: “Đừng nói phải đánh 5 năm, 10 năm, dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng phải đánh” .

    Bí Thư Thứ Nhất đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev:“Hồ Chí Minh là tông đồ nhiệt thành của tôn giáo Cộng Sản, là vị thánh của chủ nghĩa Cộng Sản, người nhiệt thành xả thân vì đại nghĩa… Các bạn phải tôn kính người này, hãy quỳ gối trước ông ấy để tỏ lòng biết ơn về những đóng góp vô vị lợi của ông ấy cho chính nghĩa Cộng Sản, đã dành cho nó tất cả sức lực và khả năng của mình” .
    Hồ chí Minh viết :”Cái danh từ tổ quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có tổ quốc, cũng chẳng có biên giới”.( Trên tờ báo Thanh Niên phát hành ở Quảng Châu ngày 20/12/26 ).

    Hồ chí Minh : “Chúng ta theo chủ nghĩa Quốc tế, không theo chủ nghĩa Quốc Gia. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng, nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung là quốc tế”. ( “Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam” -Tập I) .

  2. quang phan says:

    Tiếng nói từ những nạn nhân của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai : “Hãy trả lại cho chúng tôi cơ thể lành lặn khi xưa “ – Những người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa .
    http://www.thienlybuutoa.org/PhuocThien/ThuongPheBinh.htm

    1. Bùi Phục (mù hai mắt, gãy chân trái)
    2. Bùi Văn Ngân (cụt hai chân)
    3. Danh Dơi (hư mắt trái, gãy hai chân)
    4. Dương Đình Lộc (cụt hai chân)
    5. Dương Văn Ơi (cụt hai chân)
    6. Đặng Văn Thọ (mù hai mắt, cụt hai tay)
    7. Đỗ Châu (cụt hai chân)
    8. Đỗ Hữu Thánh (cụt chân phải, gãy chân trái)
    9. Đỗ Ngọc Anh (cụt hai chân)
    10. Đỗ Văn Lắm (cụt hai chân)
    11. Hoàng Bê (cụt hai chân, cụt tay phải)
    12. Hoàng Đắc Ánh (mù hai mắt, cụt chân trái)
    13. Hoàng Tấn (cụt hai chân)
    14. Hoàng Thế Minh (cụt hai chân)
    15. Hồ Đấu (cụt hai tay, mù mắt phải)
    16. Huỳnh Đình (mù hai mắt, cụt hai tay)
    17. Huỳnh Đình Me (cụt hai chân)
    18. Huỳnh Hợi (cụt hai chân)
    19. Huỳnh Mốc (mù hai mắt, cụt hai tay)
    20. Huỳnh Ngọc Trí (cụt hai chân)
    21. Huỳnh Phong (mù hai mắt)
    22. Huỳnh Tam (mù hai mắt)
    23. Huỳnh Văn Đức (mù hai mắt, cụt tay trái)
    24. Lai Tuấn Hiếu (cụt hai chân)
    25. Lê Đình Thiểu (cụt hai chân)
    26. Lê Hai (mù hai mắt)
    v…v…

  3. nguenha says:

    Vấn đề nói về “cuộc chiến VN”,tôi tâm đắc với bài chủ ở ý kiến:”Chưa ai nói hết.Nói sai thì nhiều và cũng chưa ai nói đủ”.Tôi là người Miền Nam,người “Bên thua cuộc”,nhưng tôi thấy đa-số người viết cả 2 bên,họ đều diển tả tâm trạng của “kẻ thắng” ,”người thua”.Họ vẩn loanh qoanh trong cái “thung lủng’ của Tâm-thức lấy Cứu cánh để biện minh cho Lý-luận .Điển hình là tác phẩm mới đây của Huy-Đức.Nó tầm thường đến nổi mà người đọc cứ nghỉ HD “viết để kiếm tiền”,vì nói lên những chuyện”biết rồi nói mải”.Bên người “thua cuộc’ thì nêu lên nhiều lý do dẩn đến “thua cuộc”.Tất cả đều đang ở “điểm thấp”(low point) của vấn đề.! Muốn nhìn rỏ một vấn đề,chúng ta phải tìm Cao điểm(summit point) của Vấn đề mà đứng,giống như người lính,không tìm cao điểm làm sao thấy hết địch quân!! Chiến-thắng của CS bắc việt
    1975,không phải là CHIẾN THẮNG DÂN-TỘC.Đó chính là lý-do, mà 3 triệu người Việt đang ở nước ngoài.Đó là lý do mà hơn 1/2 triệu người Việt chết trên Biển,trên rừng…Từ cao điểm đó ,chúng ta nhìn xuống mới thấy toàn diện chính sách vô luân của CS nói chung và CSVN nói riêng. Đứng về khoa học Dịch lý,thì Chiến thắng 1975 của CS chính là Điểm-cực-đại của” Sự thành-đạt” của CNCS ,trước khi đi vào Suy-thoái.

  4. thai son says:

    Xin nho qui vi xem lai. Phan 1 va phan 2 giong het nhu nhau. Chac co gi sai sot. Toi cho de save vao ho so ca nhan cua minh. Xin cam on.

  5. doctin says:

    “Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn” ( “On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys ” )- Thống tướng Westmoreland (Nhân Lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại New Orleans, Louisiana vào năm 1987)

    *** Trong cuộc hội thảo chánh trị quốc tế tổ chức tại Thượng Nghị Viện Hoa-kỳ ngày 02/05/95, thống tướng Westmoreland phát biểu “…Tôi đã cùng chiến đấu với các anh trong bốn năm, tôi kính phục các anh và giờ đây, tôi vẫn tiếp tục kính phục các anh. Theo tôi, tự do và dân chủ cuối cùng sẽ thắng”.

  6. doctin says:

    Tiếng nói từ những nạn nhân của cuộc chiến Đông Dương là : Tự Do Hay Là Chết , chứ nhất quyết không về sống trong “Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa” :

    Theo phúc trình của Liên Hiệp Quốc, hơn 300000 người Việt đã chết ngoài Biển Đông trong hành trình đi tìm tự do , nhưng có lẽ không đề cập đến những cái chết thương tâm vì “ bị khước từ tư cách tị nạn chính trị” dưới đây :

    Ðến năm 1988 vì quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mười năm, Cao Ủy Tỵ Nạn và các quốc gia có trại tạm cư đã quyết định áp dụng hệ thống thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đã gây ra nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây :

    0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người VN vượt biển. Kể từ ngày này , họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở nước thứ ba.

    – Ngày 20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng mình và tự thiêu. Anh sau đó đã chết vì phỏng nặng.

    -Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân , tự thiêu ở trại tị nạn Galang, Nam Dương ngày 26/4/1994. Hai ngày sau thì anh qua đời.

    - Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Liên đoàn 1 Không vận của Nam VN, đã treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha còn nhỏ dại.

    - Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương , cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.

    - Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi VN. Cha cô là lãnh tụ của một chính đảng chống Cộng và đã chết trong ‘trại cải tạó của CS. Gia đình cô bị trục xuất khỏi nhà tới một trại lao động cưỡng bách. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường vì ‘lý lịch gia đình xấu.’ Bất kể những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng12/1992, khi đơn kháng cáo của cô bị bác bỏ, cô đã treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, Thái Lan.

    - Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đã gây nên một cuộc biểu tình phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai. Anh đã lao mình từ vách đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng giêng năm 1991.

    - Trần Văn Minh, cựu trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Trần Minh Khôi, 18 tuổi, đã bị rớt ‘thanh lọc’. Vì Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đòi hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng bị bác.

    - Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dũng từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn.

    - Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, đã tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em.

    - ” Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tị nạn chính trị .Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu. “. Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị vào buổi tối trước khi tự tử trong Trại Cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.

    - ” Bản tường trình của luật sư đã khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đã dần dần đẩy tôi vào chỗ chết.” Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn phòng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.

    - ” Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng, mà vì tôi muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.” Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dũng, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đã tự đâm vào tim và chết tức khắc trước văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, Mã Lai.

    v…v…

  7. NGUYEN AN says:

    To anh Nguyễn văn Lục,
    Dù cùng ở Montréal, nhưng chưa bao giờ gặp anh …
    Một vài ý kiến cùng anh:
    1) Có lẽ anh là người chịu viết nhiều nhất, so với hải ngoại và cả trong nước, với quá nhiều dữ liệu sưu tập khác nhau.
    So với Huy Đức, nếu không nói là hơn thì chắc không kém, dù là Huy Đức lợi thế hơn anh (vì tiếp xúc được đám lãnh đạo VC trong nước).
    Nhưng anh lại có lợi thế, ưu điểm, hiểu biết phần khác, phần còn lại; mà Huy Đức không có (dữ liệu khác) hoặc không dám nói hết .
    2) Huy Đức sưu tập để viết “Bên thắng cuộc” và không thể nói hết vì nhiều lý do phức tạp, tế nhị khác nhau …
    Trong “Bên thắng cuộc” là ẩn tàng ngụ ý “Bên thắng cuộc … thua” (hay có nghĩa là BÊN THUA!).
    Trong “Bên thắng cuộc” còn ẩn ngụ ý nội dung một “Bản án chế độ Việt Cộng”.
    Có thể xem “Bản án chế độ thực dân” như khởi đầu chế độ VC và “Bản án chế độ VC” như sự chấm dứt nó!
    “Từ thực dân đến CS” rồi “Tập thơ Nguyễn chí Thiện” và “Bên thắng cuộc” là 3 bản ác khác nhau dành cho chế độ VC.
    3) Với những dữ liệu đồ sộ từ anh Lục đang có, anh đủ sức viết ” BÊN THUA CUỘC THUA”( tức là BÊN THẮNG (THIỆT)) để ghi lại những phần còn lại, mà Huy Đức chưa/không viết được; như là 1 tác phẩm để đời của tác giả NGUYỄN VĂN LỤC …

  8. Trúc Bach says:

    Trích :

    “Việt Nam (chỉ miền Nam) là con cờ Domino và nếu nó bị đổ xuống thì sẽ biến Thái Bình Dương thành cái hồ của Sô Viết và ngăn chặn những nguyên vật liệu có tác dụng sống còn cho Hoa Kỳ và đồng minh của họ”.
    (The Viet Nam wars 1945-1990, Marilyn Young, trang 29)

    Chỉ cần thay chữ “Sô Viết” bằng chữ “Trung Cộng”, thì câu trên hoàn toàn đúng cho ngày hôm nay .

    Ngày nay, Trung Cộng hoàn toàn làm chủ cái “hồ” Biển Đông là nhờ công lao của Hồ Chí Minh và đảng cs Việt Nam .

    Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhao
    Đẩ bác Hồ rước Tầu vào Biển Đông .
    Hoàng – Trường “bác” đã biếu không
    (Mai nay) Việt – Trung hợp nhất – (cũng) là công “bác” Hồ .

    (Đại thi hào Trúc Bạch)

    • Lão Ngoan Đồng says:

      Chủ thuyết Domino của các American thinktank hồi thập niên 50 đã sai bét trên thực tế.
      Giờ thì giả định của Trúc Bạch liệu có được bao nhiêu cà-ram sẽ đúng trong tương lai.

      Nên nhớ Việt Nam đã phải chịu đựng là lân bang của Tàu hàng mấy ngàn năm qua, từng bị Tàu đô hộ hai lần kéo dài gần ngàn (1000) năm, thế mà TA VẪN LÀ TA !

      Giờ lại có thêm các cộng đồng người Việt hải ngoại ở khắp thế giới làm hậu thuẫn cho người trong nước, nhất là cho phong trào đấu tranh đòi cách mạng DÂN CHỦ DÂN SINH.

      Nói tóm tắt, cho dù đảng và nhà nước cộng sản Vn có cõng rắn cắn gà nhà, thì cũng chẳng ăn thua mẹ gì hết cả. Nước Việt vẫn còn đó và dân Việt vẫn còn đây. Đừng bi quan và nhìn đời hoàn toàn mầu xám xịt rồi giải định tùm lum vô tổ chức.
      Ngược lại chính bọn CS đang tự đào hố chôn chính mình, bởi những bức xúc xã hội (social conflicts) ngày một dâng cao, sẽ biến thành ngọn sóng thần cuốn phăng bọn công lớn cộng bé trôi tuốt ra biển Đông trong một ngày không xa.
      Chuyện này cũng có thể xảy ra ở Tàu lục đia lắm đấy nhé.

      Cứ xem ở Miến Điện, nào ai có thể ngờ bọn quân phiệt Miến lại hồi đầu thị ngạn, để bị khuất phục trước phong trào dân chủ hiện nay.
      Chẳng dám hy vọng ở VN hay Tàu lục địa như rứa, nhưng cuộc cách mạng Nhung ở Đông Âu và sự chuyển quyền ở Liên Xô khá êm thấm làm ta không khỏi ít nhiều hy vọng.

      Dù sao cũng nên tâm niệm, CỜ ĐỘC LẬP HOA TỰ DO PHẢI TƯỚI BẰNG MÁU (Nguyễn Thái Học), bởi đó không phải thứ tình cho không biếu không.

      Lão Ngoan Đồng

  9. LẠI MẠNH CƯỜNG says:

    Thưa bà con,

    Tôi lại xin phép thưa thêm một (vài) lần nữa, tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của ông Nguyễn Gia Kiểng cách nay đã lâu lắm rồi, đại khái như sau: Trong thế kỷ 20 người ta đã chứng kiến một cuộc TRANH CÃI ĐẪM MÁU VỀ DÂN CHỦ …

    Quả đúng như thế, xã hội loài người cần tiến lên, cho nên ta thấy lịch sử tiến hóa của nhân loại đi từ ăn lông ở lỗ (ông tổ phe CS dựa vào thuyết tiến hoá của Darwin cho là từ khỉ ! Các nhà khoa học gia sau này cho là từ “người khỉ, chứ không phải là khỉ) dần lên thành đàn, nhóm, rồi bộ lạc, rồi hình thành xã hội quốc gia, ngày một văn minh tiên tiến như ngày hôm nay, với biết bao nhiêu thăng trầm và can qua, do thiên tai cũng như do “nhân tai” !

    Nhân tai thì rõ ràng là cái trò CÁ LỚN NUỐC CÁ BÉ muôn đời và cuối cùng đúng như ai đó đã nhận xét ngắn gọn: Lịch sử chỉ là một sự LẬP LẠI (dưới dạng thức này hay dạng thức khác mà thôi !).

    Tuy nhiên rõ ràng một điều không thể chối cãi là GIÁ TRỊ CON NGƯỜI QUA ĐÓ được ngày một nâng cao hơn nữa.
    Bằng chứng giờ đây người ta đã biến QUYỀN LÀM NGƯỜI trở nên phổ quát (universal), tức được chính thức công nhận (approved), và dĩ nhiên sự áp dụng còn tùy mức độ thiện chí của từng chính phủ các quốc gia, nếu không muốn nói là rất tùy tiện.
    Dù sau đây cũng là một bước tiến đáng kể, bởi sự áp bức con người (thậm chí tiến tới luôn cả con vật) được cải tiến thật sâu rộng. Các chế độ nô lệ, phân biệt chủng tội bị lên án tối đa và bị thủ tiêu dần dần, nhất là khi có sự thiết lập cơ chế quốc tế là Toà Án Hình Sự Quốc tế ở Den Haag (La Haye; The Hagues) tại Hòa Lan, để xét xử những kẻ bị tố cáo là phạm tội diệt chủng (genocide) !

    Hồi tưởng lại để thủ tiêu sạch chế độ nô lệ da đen ở Mỹ mà bùng nổ ra nội chiến kéo dài nhiều năm và làm chết với bị thương cơ man nào là người, nhưng tệ hại nhất là sự phân hóa trong xã hội Mỹ làm hai phe Nam và Bắc trong tâm tưởng dân chúng còn kéo dài âm ĩ trong nhiều thập niên thời Hậu chiến !

    Hiện tượng phân hóa đó đã lập lại ở Mỹ vào thời chiến tranh nóng ở Đông Dương lần thứ Hai trên nền một cuộc chiến tranh Lạnh (Cold War) giữa hai phe tư bản và Cộng Sản. Biểu tượng đặc trưng ở thời kỳ này là MẶC CẢM VIỆT NAM (The Vietnam Syndrome), và rõ rang trong xã hội loài người chẳng những ở Mỹ mà cả thế giới thường chia làm hai phe chủ chiến aka phe Diều hâu và chủ hòa aka Bồ câu !

    Cũng phải nói luôn cho rõ ràng hơn, chế độ phân biệt chủng tộc (racial discrimination) mới chỉ thủ tiêu ở nước lớn văn minh như Mỹ, chứ còn tồn tại dài dài ở các nơi khác. Điển hình nhất là ở Nam Phi với chính quyền gọi là Apartheid của đám thiểu số da trắng áp đặt lên dân da màu, nhất là dân da đen bản xứ. Từ đó mới xuất hiện ra một nhà cách mạng, rồi trở thành một người hùng và sau cùng một vĩ nhân thế giới là Nelson Mandela. Thành qủa của Mandela xin miễn kể thêm.

    Xã hội con người phức tạp nên đâu chỉ có sự phân biệt chủng tộc, mà còn có những phân biệt đối xử (discrimination) còn sâu sắc hơn thế nữa. Chẳng hạn về niềm tin tôn giáo, hay tín ngưỡng; về quan điểm chính trị; về nam nữ (nay thêm đồng tình luyến ái …)

    Tóm gọi là, CÒN SỐNG LÀ CÒN TRANH ĐẤU để cố làm cải thiện đời sống con người !

    [Và ai cũng rõ, có những cuộc tranh đấu xem ra rất vô nghĩa, nhưng thực ra cũng có mặt tích cực, làm hâm nóng bầu nhiệt huyết cho những ai muốn phiêu lưu đi tìm cái mới, thay cho cái cũ.
    Và ai cũng rõ có khi cái cũ không dở, thậm chí hay hơn cái mới, nhưng vẫn cứ phải lao về phía trước thôi, lắm khi như các con thiêu thân, cho cái gọi là lý tưởng trong sáng của mình !]

    Riêng tôi chẳng biết mình có lạc quan tếu hay chăng, nhưng rõ ràng dần dần con người đang đi dần tới cái đich khi ngày một đề cao DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN !
    Vâng con người đã cố lắng nghe tiếng nói của nhau, biết tôn trọng sự khác biệt, lại thêm những cố gắng trân qúi cái cũ hay cái hiếm có trên thế gian (từ văn hóa vật thể đến phi vật thể); tiến tới biết yêu và cố bảo vệ thiên nhiên môi trường sống quanh mình ….
    Nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bực khiến trái đất bé hẳn lại, không gian trở nên phẳng hơn, nên dần dần ngộ ra rằng mọi biến động dù là nhỏ nhặt ở một nơi nào đó trên hành tinh này đều có tác động tức thời hay dài nhâu lên nơi khác, cho dù rất xa xôi nhau.
    Con người trở nên có TRÁCH NHIỆM hơn, biết LIÊN ĐỚI nhau, để sống còn trong cái không gian ngày trở nên chật hẹp và tù túng.

    Điều tôi muốn thưa là, hãy tự vứt bỏ bộ áo quần rất chật chội và lố lăng lỗi thời về quan điểm chính trị, về tôn giáo, về chủng tộc, về phái tính … mà đi tìm đến mẫu số chung rất lớn là, TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ CON NGƯỜI, SỐNG HÀI HOÀ ĐÍCH THỰC VỚI MUÔN LOÀI TRONG MÔI TRƯỜNG QUANH TA !

    Những nhận xét về cuộc nội chiến hay ý thực hệ …. hay dưới cái tên nào đó, của ông A bà B ông C bà D …, theo tôi cũng rất hạn chế và chủ quan, so với cái không cùng của đất trời. Nói ngắn gọn, một lũ mù sờ voi thôi ! Càng đọc lắm khi càng tẩu hỏa nhập ma. Cứ xem hai ông Huy Tưởng và Nguyễn Văn Lục mà làm gương tày liếp.
    Dân Việt hiểu CS cũng như phía quốc gia hay Mỹ, Nga, Tàu … không qua từ chương sách vở bác học, mà bằng THỰC TẾ tức các trải nghiệm của chính mình.
    Nguyễn Duy đã chán ngán kết luận bằng hai câu cuối trong bài thơ sáu câu ĐÁ ƠI, khi ngồi tưởng niệm nơi đền Angkor đổ nát rằng:

    NGHĨ CHO CÙNG TRONG MỌI CUỘC CHIẾN TRANH
    PHE NÀO THẮNG NHÂN DÂN ĐỀU BẠI !

    • Tào Lao says:

      Hoan hô LMC, lâu lắm bây giờ mới thấy “tái xuất phản hồi”, tưởng sợ ruồi nên trốn sang Pháp nghỉ đông, ai ngờ Pháp Quắc lạnh quá nên bay về với ĐCV hả?

      Chúc LMC múa bút tung chiêu đều đều cho bà con thưởng thức.

      • LẠI MẠNH CƯỜNG says:

        Xin cám ơn, thực ra tôi chỉ mong được ĐỐI THOẠI BỘC TRỰC trong tình anh em, nghĩa đồng bào về những nan đề Việt Nam.

        Tôi thẳng thừng từ chối đối thoại với những người chỉ thích bôi đen kẻ khác, khi có bất đồng chính kiến. Nhất là những kẻ ấy ở trong tối, qua sự xử dụng nickname tùm lum, còn tôi ở ngoài sáng, dùng tên thật với địa chỉ thật, để chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì mình phát biểu công khai nơi đây.

        Tôi luôn luôn tôn trọng sự khác biệt qua tinh thần dân chủ đa nguyên ! Tôi có chính kiến và họ cũng có ý kiến riêng. Nếu cần mới thảo luận thêm cho rộng đường dư luận, và hiểu nhau hơn. Đây là điều tôn trân qúi nhất.

        Nếu có người quá bức xức, cảm thấy cần phải đẩy những ngôn từ đi quá biên hạn cho phép, tôi sẽ không hồi âm và để công chúng tự luận định mọi sự.
        Đơn giản thế thôi và tôi đã tránh được những đôi co vô ích, không đáng xảy ra để làm phiền Ban Biên tập và bạn đọc bốn phương khác.

        Trên đời này tôi chả phải sợ cái gì, ngoài sự TÔN TRỌNG SỰ THẬT !
        (Nhưng cũng nên coi chừng đó chả khác gì CHÂN LÝ, có cái chân chạy lăng quăng, khi thế này khi thế khác !
        Nói thế cho vui, chứ chân lý chỉ tương đối bởi vạn vật tương đối phải không ạ)

        Ai cũng rõ sự thật lại có phần khác nhau ít nhiều, khi ta ngắm nhìn nó dưới các góc cạnh khác nhau. Vì thế lại càng phải trân trọng lẫn nhau trong đối thoại để tiếp cận sự thật ở mọi chiều kích.
        Không khéo đối thoại sẽ làm bế tắc cuộc thảo luận ngay lập tức; còn biết tôn trọng nhau và cố giữ ngôn từ cho lọt lỗ tai nhau thì sẽ trở nên hào hứng và bổ ích cho mọi người.

        Tới đây tôi không khỏi nhắc lại nhận xét của Nguyễn Gia Kiểng (đã lâu rồi), khi ông tỏ ý chê trách đại khái: Người Việt KHÔNG biết đọc, biết viết và biết đối thoại với nhau sao cho nghiêm chỉnh !
        Thực ra tôi biết tính khí ông Kiểng, thích chọc tức người ta, để tạo ra những tranh luận hào hứng.

        Theo tôi nhược điểm lớn nhất ở người Việt và cả của nhiều dân tộc khác, nhất là ở các nước chậm tiến, đó là CÁI TÔI đáng ghét.
        Giờ đây cá mè một lứa, còn bọn cầm quyền cộng sản là một lũ ăn hại đái nát, một đám mafia đỏ, nên lắm ông bà cô cậu … nghiễm nhiên trở thành chính khách salon, bàn phím …, tha hồ phát ngôn vô tổ chức, hành xử thô bạo với nhau, cho dù đang sống ở các nước văn minh tiên tiến nhất nhì thế giới.
        Cái thói bạo hành vô nghĩa bằng ngôn từ (non-sense verbal viloence) ngày càng phổ biến trong thế giới ảo của cộng đồng người Việt, với bao nhân danh vì công lý, vì sự thật, vì tự do dân chủ …, đến buồn nôn !

        Ngày nào mà dân ta biết khiêm tốn hơn, không tự coi mình là cái rốn của vũ trụ, thì tự nhiên sẽ có trật tự, có ổn định, có phát triển dân chủ tự do. Hy vọng ngày đó không xa.
        Chả nói đâu xa, nếu như Ban Biên tập của diễn đàn này khéo ứng xử, thì đã không xảy ra tệ trạng bạo lực ngôn từ vô nghĩa ngày một gia tăng đến chóng mặt nơi đây. Nên nhớ kỹ “NHÀ DỘT TỪ NÓC” !

        Kính cáo,
        Lại Mạnh Cường

  10. Đỗ Thúy Hường says:

    Bác Lục ơi!
    Thế này nhé, cái ông Huy Đức viết ra Bên Thắng Cuộc chỉ dựa vào những tư liệu mà chính ông ta thu thập được (chủ yếu là tiếp xúc nhân vật, phỏng vấn). Danh sách cảm ơn dài dằng dặc đấy thôi. Huy Đức chỉ dẫn ra tư liệu mà nhân vật cung cấp, chứ không khen hay chê người cung cấp.
    Thế thì làm sao bác Lục dám trách Huy Đức là nói quá ít về Bùi Tín và Nguyễn Chí Thiện? Huy Đức đã lần nào tiếp xúc với 2 vị này đâu. Đã có dịp nào phỏng vấn 2 vị này đâu?
    Vấn đề là trong danh sách “cảm ơn” mà Huy Đức đưa ra nếu có ai lên tiếng rằng “Huy Đức bịa lời tôi” thì có thể sẽ làm cho Bên Thắng Cuộc mất đi sự tin tường về tính khách quan của nó.
    Mới chỉ có ông Triều (con cụ Lưu Quý Kỳ) lên tiêng thôi. Nhưng mọi người vẫn thấy Huy Đức phản ánh không sai về cái hố đã từng xuất hiện giữa hai cha con nhà này.

    Đến bác Lục mà còn có kiểu phê phán như vậy thì Huy Đức sẽ còn bị phê nhiều theo kiểu này.

Phản hồi