|

Phục hồi Hiệp Định Paris 1973: Hoang tưởng hay hiện thực?

Hội nghị Paris, 23/1/1973. Ảnh Bettmann/CORBIS

Hội nghị Paris, 23/1/1973. Ảnh Bettmann/CORBIS

Cách đây hai tuần, tôi có viết bài “Khoảng Cách Chạy Tội: Sự Thực Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973.” Bài này có một tiểu mục về chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris của Ông Nguyễn Ngọc Bích, Chủ Tịch của Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH, một hình thức chính phủ lưu vong. Tôi đã kết luận rằng đây là một ý kiến hoang tưởng.Nhiều độc giả đặc biệt chú ý tới một tiểu mục này và đóng góp khá nhiều ý kiến.Riêng Ông Nguyễn Ngọc Bích vẫn nghiêm chỉnh cho rằng ý kiến phục hồi Hiệp Định Paris là một việc khả thi.Theo ông, sau khi lấy lại miền Nam Việt Nam, ông sẽ tổ chức tổng tuyển cử và những người di cư từ miền Bắc vào Nam sau 30-4-1975 được phép ở lại miền Nam, nhưng họ không có quyền đi bầu. Phần đông ai cũng thấy đây là một chuyện hoang tưởng.Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của một số độc giả,kể cảÔng Nguyễn Ngọc Bích, tôi xin giải thích rõ hơn vì sao phục hồi Hiệp Định Paris không thể là một hiện thực.

Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973

Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973 đã có từ cuối thập niên 1970. Sau khi GS Vũ Quốc Thúc được chính phủ Pháp can thiệp cho di cư sang Pháp vào 1978, ông đã nhận thấy những nhân vật chủ chốt cũ của VNCH cần thành lập một chính phủ lưu vong để phục hồi Hiệp Định Paris và tiếp tục tranh đấu chống Cộng Sản. Nhưng mãi đến cuối 1986, ý kiến này mới được thảo luận nghiêm chỉnh trong một cuộc hội thảo tại Paris để bàn về vấn đề thuyền nhân. LS Vương Văn Bắc, cựu bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, nhận định rằng Hiệp Định Paris vẫn còn có giá trị và có những điều khoản giúp thiết lập hòa bình ở Việt Nam và như vậy sẽ chấm dứt được thảm cảnh vượt biển và quốc tế sẽ không nhìn những thuyền nhân như những người tị nạn kinh tế.

Các tham dự viên của cuộc hội thảo đã quyết định thành lập Ủy Ban Luật Gia Việt NamVận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 (Comité de Juristes Vietnamiens pour la Remise en Vigueur des Accords de Paris de 1973) do GS Vũ Quốc Thúc làm chủ tịch.Ủy Ban Luật Gia Việt Nam(Ủy Ban Luật Gia Việt NamVận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 viết tắt) soạn thảo bạch thư “Chiến Tranh và Hòa Bình ở Đông Dương” (Guèrre et Paix en Indochine) và chính thức kêu gọi Chánh Phủ Pháp đứng ra hòa giải vì Pháp đã tổ chức cuộc hòa đàm đưa đến Hiệp Định Paris 1973.

Tiếp theo sáng kiến của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973, một vài nhân vật và một số tổ chức khác đã theo đuổi việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973.

Trước và sau khi của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được thành lập, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tiếp xúc với tổ chức này thường xuyên, vì ông ủng hộ việc vãn hồi Hiệp Định Paris. Chính cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã gửi thư lên Liên Hiệp Quốc về vấn đề này vào năm 1993.

Đến năm 2008, Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu chủ tích Hạ Viện và cựu thủ tướng VNCH, thành lập Chánh Phủ VNCH lưu vong tại Hoa Kỳ. Ông Cẩn cũng chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris 1973. Sau khi ông đột ngột từ trần vào năm 2009, hai Ông nguyễn Văn Chức và Lý Tòng Bá của Chính Phủ VNCH lưu vong tiếp tục công việc vận động này. Người ta không rõchính phủ lưu vong này đã đạt những kết quả cụ thể nào.

Hình (VNCH Foundation): Phái đoàn chính phủ lưu vong VNCH vận động Quốc Hội Hoa Kỳ để phục hồi Hiệp Định Paris 1973 gồm các ông (hàng đầu từ trái): Hồ Văn Sinh, Lâm Chấn Thọ,  Nguyễn Ngọc Bích, một phụ tá của DB Ed Royce, Lý Tòng Bá, không rõ tên, và Nguyễn Văn Chức.

Hình (VNCH Foundation): Phái đoàn chính phủ lưu vong VNCH vận động Quốc Hội Hoa Kỳ để phục hồi Hiệp Định Paris 1973 gồm các ông (hàng đầu từ trái): Hồ Văn Sinh, Lâm Chấn Thọ, Nguyễn Ngọc Bích, một phụ tá của DB Ed Royce, Lý Tòng Bá, không rõ tên, và Nguyễn Văn Chức.

Gần đây nhất, Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH) của Ông Nguyễn Ngọc Bích mới thành lập vào tháng 10, 2012 cũng gửi thỉnh nguyện thư gồm trên 30.000 chữ ký, kêu gọi Liên Hiệp Quốc tái nhóm một Hội Nghị Quốc Tế khẩn cấp về Việt Nam để “phục hồi Hiệp Định Paris 1973 nhắm trả lại danh dự và công bằng cho 40 triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa”.

Thỉnh nguyện thư này gián tiếp xác nhận UBLĐLTVNCH là một chánh phủ lưu vong và có một “quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ngoài lãnh thổ”. Việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 và thành lập chính phủ lưu vong VNCH chỉ là phương tiện.Mục tiêu của UBLĐLTVNCH là phục hoạt chế độ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết những nhân vật chính của VNCH từ ngày ra nước ngoài sống ẩn dật hoặc ngày nay đã quá lớn tuổi hoặc đã qua đời.

LS Lâm Chấn Thọ, một người chủ trương trở lại Hiệp Định Paris 1973, phân tách rằng “Vì không có một tổ chức nào ở hải ngoại hoặc quốc nội có đủ tầm vóc để được các thành phần không cộng sản tín nhiệm, chính phủ lưu vong là chất keo kết nạp tất cả các tổ chức không cộng sản lại.” Người ta muốn biết tất cả bốn chính phủ Việt Nam lưu vong ở Hoa Kỳ có được người Việt trong và ngoài nước ủng hộ hay không, cho đến nay đã kết nạp được bao nhiêu đoàn thể, có bao nhiêu thành viên, thành lập được bao nhiêu cơ sở.

Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973

Việc làm của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được một phần chính giới Pháp ủng hộ. Tuy nhiên, quan điểm chính thức của Pháp đã được DB Georges Mesmin trình bầy tại cuộc hội thảo 1986 tại Paris rằng:

“Khi chính phủ Pháp chính thức yểm trợ Việt Nam (Cộng Sản) gia nhập Liên Hiệp Quốc [1977], thì mặc nhiên Pháp đã xí xóa việc Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris 1973.”

Ủy Ban Luật Gia Việt Nam cũng không nhận được sự tiếp tay của Hoa Kỳ. Trước cuộc hội thảo một ngày, Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan, đến gặp GS Vũ Quốc Thúc và cho biết rằng Hoa Kỳ không muốn cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu công khai tham gia hội thảo mà nên đứng sau hội trường. Ông Steinman cũng khuyến cáo rằng:

“Sớm muộn gì quý vị cũng phải dùng biện pháp bất tuân dân sự (civil disobedience).Phải có phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc mới hy vọng thay đổi được chế độ cộng sản độc tài.”

Hình (NQK): LS Nguyễn Hữu Thống, chủ tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, cựu dân biểu Quốc Hội VNCH.

Hình (NQK): LS Nguyễn Hữu Thống, chủ tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, cựu dân biểu Quốc Hội VNCH.

Vào năm 1989, cựu TNS Phạm Nam Sách và cựu DB Nguyễn Hữu Thống gửi đơn lên Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) tại The Hague, Hòa Lan để kiện CSVN vi phạm Hiệp Định Paris 1973. Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thụ lý được trường hợp này vì cơ quan này chỉ sử tranh chấp giữa các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Quốc mà thôi.

Hoa Kỳ không đưa ra một quan điểm chính thức nào về việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 cho đến năm 1990. Sau khi cuộc vận động tại Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thành công, Luật sư Nguyễn Hữu Thống nhân danh Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền (UBLGBVDQ) vận động thẳng với chánh phủ Hoa Kỳ và được Tổng Thống George H. W. Bush phúc đáp rằng Hoa Kỳ không trở lại Hiệp Định Paris 1973 nữa.

UBLGBVDQ được thành lập vào 1990 gồm có LS Nguyễn Hữu Thống, LS Nguyễn Văn Chức, GS Vũ Quốc Thúc, LS Phạm Nam Sách, LS Nghiêm Xuân Hồng,và GS Nguyễn Cao Hách.

Không có quốc tế yểm trợ, kế hoạch vận động vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 chủ xướng từ năm 1986 đã thất bại. GS Vũ Quốc Thúc chia sẻ cảm nghĩ của ông về sự kiện này như sau:

“Dù biết trước những sự khó khăn này, ngay từ năm 1986, chúng tôi đã tìm cách nêu vấn đề trở lại Hiệp định Paris. Mục đích của chúng tôi, lúc bấy giờ, là kích thích tinh thần đấu tranh của Cộng đồng Việt Nam tại Pháp, phần nào đã suy giảm sau khi thấy CSVN rầm rộ ăn mừng “mười năm tái thống nhất đất nước … Tóm lại, vấn đề trở lại Hiệp định Paris, coi như đã bị các đồng minh cũ của Việt Nam Cộng Hoà gạt bỏ hẳn.”

Sau khi công cuộc phục hồi Hiệp Định Paris bất thành và Hoa Kỳ bình thường hóa ngoại giao với Hà Nội, GS Vũ Quốc Thúc đã hợp tác TS Nguyễn Bá Long, rút kinh nghiệm của những cuộc cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản ở Đông Âu, thiết lập Phong Trào Hiến Chương 2000 để đấu tranh với CSVN và vận động cho một thể chế tự do dân chủ tại Việt Nam. Bản Hiến Chương 2000 được công bố vào ngày 25-11-2000 tại Paris.

Kể từ năm 1977, khi Việt Nam được gia nhập Liên Hiệp Quốc, tức là đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận, ngày càng có thêm trở ngại cho việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 và đến nay có thể nói không còn một hi vọng nào cả.Đối với quốc gia công nhận và quốc gia được công nhận, Hiệp Định Paris không còn giá trị nữa.

Hoa Kỳ chính thức công nhận Việt Nam khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận với Việt Nam vào năm 1994 và tái lập bang giao với Việt Nam vào năm 1995. Kể từ thời điểm này Hoa Kỳ chính thức không còn tôn trọng Hiệp Định Paris 1973.

Ngay từ đầu Hiệp Định Paris 1973 cũng chỉ là một thỏa hiệp tạm bợ để Hoa Kỳ hi vọng có thêm thời gian tháo chạy ra khỏi Việt Nam mà không bị mất mặt. Do đó, không có một động cơ nào để Hoa Kỳ phục hồi hiệp định này.Trái lại, chính sách của Hoa Kỳ hiện nay là liên kết với chính quyền Hà Nội để ngăn chặn lại sự bành trướng của Trung Quốc.

Tại buổi hội thảo về chính sách ngoại giao vào giữa tháng 12 vừa qua tại Hà Nội, Đại Tá CSVN Trần Đăng Thanh, giảng viên thuộc Học Viện Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, nói rằng Hoa Kỳ “đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc.”

Trong một buổi hội thảo vào cuối năm 1987 cũng tại Paris do do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 tổ chức, ông Henri Kissinger, cựu Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của cựu Tổng Thống Richard Nixon, giải thích rằng:

“Hoa Kỳ không phản ứng khi Hà Nội vi phạm hiệp định vì Hoa Kỳ đang bị lúng túng với vụ Watergate. Dư luận Hoa Kỳ cho rằng Hoa Kỳ đã rút hết quân rồi, việc Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris xâm chiếm miền Nam là việc nội bộ của Việt Nam, Hoa Kỳ không thể nào nhân cơ hội này trở lại Việt Nam để bị lôi cuốn một lần nữa vào ‘vũng bùn chiến tranh’ và Quốc hội Mỹ cũng không chấp nhận.”

Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 là thiếu hỗ trợ quốc tế.Phục hồi nó không dễ dàng và không đem lại quyền lợi thực tiễn nào cho các nước tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam.Từ lâu hiệp định này đã là một sự kiện quá khứ.

Trong 40 năm vừa qua, theo thiển ý của tôi, mặc dù có những cá nhân xuất sắc nhưng ở hải ngoại chưa thấy xuất hiện một tổ chức nào lớn mạnh, có uy tín và hậu thuẫn của người Việt để có thể đảm đương những việc làm có tầm vóc quốc tế như việc vận động phục hồi Hiệp Định Paris, giả sử nếu đó là một việc hợp lý đáng làm. Chúng ta không có thực lực.Đó là trở ngại không kém quan trọng.Và nếu không có thực lực, không một định chế quốc tế nào ủng hộ chúng ta cả.

Hiệp Định Paris 1973 chỉ còn giá trị lịch sử

Hiệp Định Paris 1973 đã chết ngắc ngoải vào đầu năm 1974, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris 1973 vô giá trị vì CSVN lợi dụng thời gian ngưng bắn để lấn chiếm những vùng hẻo lãnh. Những vi phạm này được xác nhận trong thông cáo báo chí của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ ngày 10-4-1973 và công hàm của Hoa Kỳ gửi 11 nước yểm trợ Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam.

Khi CSBV xua quân vượt qua sông Bến Hải để tiến chiếm Việt Nam vào 8-1-1975, Hiệp Định Paris đã bị khai tử từ ngày đó.Cả thế giới làm ngơ trước sư vi phạm trắng trợn này. Hoa Kỳ cũng không có một phản ứng nào mặc dù Điều 7 (b) của Đạo Luật về Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam (Act of The International Conference of Vietnam) ký ngày 2-3-1973 bởi 12 nước bảo đảm Hiệp Định Paris 1973 qui định rằng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ và nước Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam có thể triệu tập hội nghị quốc tế thay mặt những nước đã ký kết hoặc trong trường hợp có it nhất sáu nước đồng ý.

Hiệp định Paris 1973 đã chết thì không thể làm sống lại được vì những điều khoản trong hiệp định này. Thật vậy, Hiệp Định Paris 1973 công nhận Việt Nam có hai miền Bắc và Nam. Riêng miền Nam Việt Nam có hai chánh phủ: (1) Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và (2) Chánh Phủ Cách Mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.

Điều 9 (b) của Chương IV qui định rằng:

Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.”

Sau ngày 30-4-1975, chánh phủ VNCH không còn và sau ngày 2-7-1976 Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam cũng bị sát nhập vào Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Việt Nam không có hai miền Nam Bắc riêng biệt nữa.Sau 30-4-1975 cả triệu người Bắc di cư vào Nam lập nghiệp, không kể 150,000 quân CSBV được hai Ông Chu Ân Lai và Kissinger cho phép chính thức ở lại miền Nam Việt Nam kể từ ngày Hiệp Định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973. Miền Nam hiện nay không còn là miền Nam trước 30-4-1975 nữa.Phục hồi Hiệp Định Paris 1973 để đòi Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trả lại phần đất phía nam vĩ tuyến 17, để miền Nam tổ chức tổng tuyển cử là một chuyện hoàn toàn thiếu thực tế. Ngoài ra, không ai muốn Việt Nam lại bị chia cắt ra làm hai phần một lần nữa.

Kết luận

Sau 40 năm, tình hình thế giới đã thay đổi.Biển Đông nổi sóng vì tham vọng bành trướng củaTrung Quốc.Bàn cờ Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn.Không nên và cũng không thể nào lập lại bàn cờ cũ được.Cách đây một phần tư thế kỷ, những cố gắng của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 và Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền chứng tỏđã quá trễ rồi. Rút kinh nghiệm của những người đi trước, ngày nay ý tưởng phục hồi một hiệp định đã trở thành vô giá trị, với toan tính dựa dẫm nặng nề một lần nữa vào thế lực ngoại quốc, là một hoang tưởng và một dại dột.

Ông Lê Quế Lâm, một độc giả, sau khi đọc bản thảo của bài viết này đã tóm tắt suy nghĩ của ông như sau:

“Hiệp Định Paris 1973 ra đời đến nay vừa tròn 40 năm, đất nước đã thay đổi quá nhiều, làm sao có thể tái tạo bối cảnh cũ để trình diễn. Chỉ còn cách đóng tuồng để hoài vọng quá khứ.”

Theo thiển ý của tôi, về mặt quốc tế, lội ngược dòng là chết. Tương kế tựu kế là sách lược khôn ngoan cho một quốc gia nhỏ bé và chậm tiến như Việt Nam trong tình trạng hiện nay. Về mặt quốc nội, yểm trợ những nhà dân chủ kiên cường ở trong nước là quốc sách.

Cách đây vài năm, tôi được dịp tham gia một cuộc hội thảo quốc tế về Việt Nam tại Hòa Lan. Trong dịp này tôi được hân hạnh gặp một thuyết trình viên là Bà J. W. E Spies, lúc đó Bà là Chủ Tịch Đảng Christian Democratic Appeal và dân biểu Quốc Hội Hòa Lan, và hiện nay Bà là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Khi được hỏi về vấn đề vận động quốc tế cho tự do dân chủ ở Việt Nam, Bà nói rằng người Việt Nam trước tiên phải hi sinh, phải tranh đấu cụ thể cho đất nước của chính mình trước khi mong đợi người ngoài giúp đỡ. Tôi nghĩ rằng lời khuyến cáo của Bà Spies thật rấtthực tiễn và chí lý đáng cho chúng ta suy ngẫm.

© Nguyễn Quốc Khải

© Đàn Chim Việt
—————————————

Tài liệu tham khảo:

1. Lam Chan Tho, “Est-il Une Solution Pour Le Vietnam?” 2-10-2012.
2. Lê Quế Lâm, “Những Đóng Góp Cho Đất Nước Sau 1975 Của Một Chứng Nhân Lịch Sử: GS Vũ Quốc Thúc,” Thụ Nhân Âu Châu, 16-7-2011.
3. Lê Quế Lâm, “Đọc Hồi Ký của GS Vũ Quốc Thúc,” Việt Thức, 28-12-2010.
4. Nguyễn Hữu Thống, “Hiệp Định Hòa Bình Paris Dẫn Đến Hòa Bình của Những Nấm Mồ,” Việt Vùng Vịnh, 2-6-2010.
5. Nguyễn Quốc Khải, “Sự Thật Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973,” RFA, 17-12-2012.
6. Nguyễn Quốc Khải, “Mạn Đàm về Chính Phủ Lưu Vong,” Đàn Chim Việt, 05-12-2012.
7. Nguyễn Thiếu Nhẫn, “Sự Vong Thân Của Một Vị Tôn Sư,” Tin Paris, 2-10-2011.
8. Paris Peace Accords, “Act of The International Conference of Vietnam”, March 2, 1973.
9. Trần Đăng Thanh, “Đại tá Trần Đăng Thanh giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học,” Ba Sàm. 19-12-2012.
10. Trần Thị Diệu Tâm, “Buổi Giới Thiệu Sách của GS Vũ Quốc Thúc tại Paris,” 12-11-2010.
11. Trần Thị Diệu Tâm, “Tang Lễ của LS Vương Văn Bắc,” 28-12-2011.
12. U.S. Department of State, “Complaints of Violations of the Cease-fire: United States Note Verbale transmitted April 10, 1973 for delivery to prticipants in the International Conference in Vietnam,” April 10, 1973.
13. Vũ Quốc Thúc, “Thời Đại của Tôi,” nhà xuất bản Người Việt, 2010.
14. Đào Nương, “Chỉ Một Ngày Là Lập Xong Chính Phủ,” Saigon Nhỏ số 1019, 9-11-2012.

382 Phản hồi cho “Phục hồi Hiệp Định Paris 1973: Hoang tưởng hay hiện thực?”

  1. Củ Lẫn says:

    Diễn đàn DCV bây giờ thành cái cái chợ trời không ai coi chừng hay sao mà để thiên hạ lấy tên những người nổi tiếng và còn sống nhăn răng làm nick như vậy cà? Vừa phải thôi…

    • Lê Dân Việt says:

      Đàn Chim Việt là sân chơi chung mở, làm sao trách BBT ĐCV được chuyện này hả bác Cù Lẫn.

      ACE trong BBT ĐCV cũng như chúng ta ngoài đời phải lo cơm áo gạo tiền, rãnh thì lo chuyện vác ngà voi thiên hạ. Có được sân chơi mở như vậy là quý lắm rồi. Chúng ta phải chấp nhận thôi. ĐCV là con đò chung, chúng ta là những người đi đò phải tự kéo dây, hay chèo qua sông thôi.

      Kẻ đáng trách ở đây là những kẻ không đoàng hoàng, lợi dụng diễn đàn mở để núp danh những người khác, để mượn oai hùm, che dấu sự yếu đuối và giả tạo của mình một cách bỉ ổi vô liêm sỉ. Không thể loại trừ khả năng bọn chó đẻ CAM lên đây tung hoả mù phá thối diễn đàn, để bên vực cho cái láo lừa của lũ CSVN bán nước hại dân, dùng tên tuổi của những vị này.

      Chúng ta phải chấp nhận sự thật này để mà đối đầu với lũ khốn này. Cứ mặc kệ chúng lên đây đọc và phá, lâu ngày nước sẽ thấm, để tự chúng nhận chân ra giá trị hiện thực của của người. Nếu chúng tranh luận đàng hoàng thì phản biện, còn chúng xủa bậy thì cứ việc dùng chổi cùn đập vào mõm cho tuị chó này cho câm miệng lại là xong. Phải không bác?

  2. Trung Kiên says:

    TK đồng ý rằng; Phát biểu của LS Trần Thanh Hiệp và của Bùi Diễm có giá trị nhất định nào đó.

    Nhưng càng biết thêm nhiều về HĐ Paris 1973 thì càng biết rõ hơn…thái độ của người Mỹ, một khi họ đã “quyết lòng rũ áo ra đi”:

    Tiếp tục thông tin sự thật về Hiệp định Paris (27.01.1973)

    Với tôi, nếu phải chọn giữa Trung Quốc, Nga hay Mỹ làm bạn thì…Tôi sẽ chọn Mỹ, tuy nhiên…

    Mỹ là nguời BẠN hào phóng. Chơi với Mỹ thì cần phải hiểu họ và tận dụng sự “hào phóng” của họ để tạo dựng NỘI LỰC hầu đứng vững trên đôi chân của mình. Đừng ỷ nại hay dựa dẫm vào họ để phải mang lụy (hối hận) về sau…

    Vì rằng, như chúng ta đã thấy, người Mỹ thì… không có BẠN hay THÙ vĩnh viễn, mà…QUYỀN LỢI NƯỚC MỸ LÀ TỐI THƯỢNG!

    Đối với bọn Tầu thì chỉ nên ngoại giao và phải rất cẩn thận, tên này láu cá vặt và rất hiểm độc. Còn với Nga thì…nước xa không cứu được lửa gần.

    • Người HN says:

      Ý kiến này của TK khá khách quan, có thể vì ngoại giao, người ta nói không như TK đã nói, nhưng suy nghĩ và thực hiện chắc VN bây giờ đang đi theo hướng như vậy, nếu bạn chắp nối các hành động sẽ thấy!

  3. LS Trần Thanh Hiệp says:

    ” … Đặt lại vấn đề làm sống lại Hiệp định Paris thì cũng không thể giải quyết gì được chuyện tương lai đất nước …”

    40 Năm Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973: Dịp May Bị Bỏ Qua

    Tú Anh
    Radio France Internternational
    24-1-2013

    Đài phát thanh Radio France International (RFI) mới phỏng vấn LS Trần Thanh Hiệp về Hiệp Định Paris 1973. Về vấn đề phục hồi Hiệp Định Paris 1973, LS Hiệp đã nhận định nguyên văn như sau:

    “Tôi có nghe thấy và đọc một số thông tin về sáng kiến làm sống lại Hiệp định Paris. Tôi không nắm rõ được tình hình nên không muốn khẳng định rằng hiện đã có kế hoạch nào để thực hiện hay không ? Nhưng, với tư cách là một người đã từng tham dự hòa đàm Paris, với kinh nghiệm chuyên môn về luật quốc tế , với kinh nghiệm bản thân từng chứng kiến mọi biến cố lịch sử trọng đại từ 1945 đến nay, tôi có thể nói ý nghĩ thầm kín của của tôi là Hiệp định Paris tuy nói là chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình tại Việt Nam nhưng dường như chỉ là một « cái xác không hồn », văn tự thì đề cao nhân nghĩa nhưng cách ứng xử của một trong những thành phần tham gia thì chỉ là một loạt tội ác…

    Do vậy, đặt lại vấn đề làm sống lại Hiệp định Paris thì cũng không thể giải quyết gì được chuyện tương lai đất nước. Chi bằng cả nước dồn nỗ lực làm sống lại lý tưởng đoàn kết dân tộc, xây dựng dân chủ tự do, mang lại nhân phẩm cho mỗi con người Việt Nam mà Hiệp định Paris đã xưng tụng, thiết kế thực hiện nhưng hiệp định này đã bị dìm chết. Quốc tế và Cộng sản Hà Nội đã làm lỡ dịp may này.”

    Sau đây là toàn bộ bài phỏng vấn mới phổ biến trên mạng của RFI.

    oo0oo

    40 Năm Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973: Dịp May Bị Bỏ Qua

    Tú Anh
    Radio France Internternational
    24-1-2013

    Ngày 27/01/2013 tới đây ghi dấu 40 năm Hiệp định Hòa bình Paris 1973. Hiệp định này được Hà Nội xem là “móc son chiến lược” dẫn đến cuộc tổng tấn công và chiến thắng quân sự vào tháng 04/1975. Mỹ ngưng can thiệp tại Đông nam Á, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ nhưng giờ đây nhiều ý kiến trong và ngoài nước lo ngại hệ quả Hiệp định Paris tác động đến sinh mệnh của Việt Nam trước gọng kềm quân sự và chính trị của Bắc Kinh.

    “Hiêp Định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết vào ngày 27/01/1973. Sau bốn năm đàm phán lúc đầu công khai giữa bốn bên Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, về sau là mật đàm giữa hai ông Henry Kissinger và Lê Đức Thọ.

    Hiệp định này giúp cho Hoa Kỳ ngưng tham chiến tại Việt Nam, thu hồi tù binh. Hà Nội được duy trì các sư đoàn xâm nhập vào miền nam. Sài gòn và Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam được kêu gọi hòa giải dân tộc, tổ chức bầu cử, chấm dứt xung đột võ trang.

    Tổng thống Mỹ Richard Nixon hứa sẽ viện trợ cho hai miền nam bắc 7 tỷ đô la để tái thiết nếu hòa ước được tôn trọng. Hai nhà mật đàm Henry Kisinger và Lê Đức Thọ được Ủy ban Nobel Hòa bình Na Uy trao giải thưởng 1973, nhưng ông Lê Đức Thọ từ chối.

    Ngày 6 tháng 01 năm 1975, tỉnh Phước Long bị đánh chiếm nhưng Hoa Kỳ không phản ứng mà còn cắt viện trợ cho Sài Gòn. Vài hôm sau, Hà Nội tung chiến dịch « Hồ Chí Minh » đưa đến chiến thắng 30/04/1975.

    40 năm sau, báo chí tại Việt Nam có dịp đưa lại những lập luận khẳng định Hòa ước Paris chỉ là « móc chiến lược » để tìm chiến thắng quân sự thay vì củng cố hòa bình tái thiết đất nước. Trả lời phỏng vấn của tờ Courrier du Vietnam, Đại sứ Việt nam bên cạnh Unesco, ông Dương Văn Quảng nhận định « Hiệp định Paris tạo điều kiện cần thiết về quân sự, chính trị và ngoại giao để tổng tấn công năm 1975 ».

    Báo mạng ViêtNamNet mượn lời phân tích trên bán nguyệt san Mỹ Counter Punch chỉ trích tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu « sai lầm không nỗ lực làm cho Hiệp định có hiệu lực, chia quyền …với người Cộng sản dân tộc chủ nghĩa » nên phải lưu vong vào mùa xuân 1975.

    Tuy nhiên ,các tài liệu của Mỹ được giải mật cho thấy Sài gòn bị đồng minh Hoa Kỳ « bức tử ». Bốn mươi năm nhìn lại, nhiều blogger người Việt như Hoàng Thanh Trúc trên blog « Dân làm báo » và Nguyễn Quốc Khải trên « Đàn chim Việt » đưa ra hai nhận xét : một là Hiệp định Paris đã đưa Việt Nam vào chế độ độc tài, sau khi chiến thắng đảng Cộng sản Việt Nam đã không thực thi dân chủ theo nguyện vọng của dân. Thứ hai, kẻ chủ động và chiến thắng không phải là Hà Nội mà có lẽ là Bắc Kinh.

    Được RFI đặt câu hỏi, Luật sư Trần Thanh Hiệp, một trong những thành viên phái đoàn VNCH tham gia hoà đàm tại Paris, hiện đang sống tại Pháp, chia sẻ một số ý kiến của ông, trong phần phỏng vấn sau đây.

    Luật sư Trần Thanh Hiệp :

    « Tôi chỉ là luật sư hành nghề tự do tại Sài Gòn không thuộc thành phần của chính phủ cũng như ngoại giao đoàn… tôi tham gia hòa đàm cũng như một số đồng nghiệp như nữ luật sư Nguyễn Thị Vui, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy hoặc tại Paris như luật sư Nguyễn Đắc Khê…. Đều không phải là người của chính quyền. Chúng tôi được mời tham gia phái đoàn đàm phán vì được tín nhiệm là luật gia.

    Về những mục tiêu của Hiệp định Paris 1973 :

    Luật sư Trần Thanh Hiệp : « Đối với tôi, hiệp định chỉ có hai (loại) mục tiêu : một là những mục tiêu được công bố trước dư luận và hai là những mục tiêu thầm kín, dư luận không biết.. Đối với Hoa Thịnh Đốn, Hà Nội và Sài Gòn thì mục tiêu của Hiệp định Paris là tái lập hòa bình ở Việt Nam. Từ mục tiêu chúng có tính cách lý tưởng , mỗi phía đều theo đuổi mục tiêu riêng và cụ thể như Mỹ thì muốn an toàn rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.

    Hà Nội trái lại, chỉ tìm cách giữ lại tại miền Nam những lực lượng quân sự đã xâm nhập. Riêng Việt Nam Cộng Hòa đã phải co cụm lại vì cần phải tự vệ trước ý đồ đánh chiếm của Hà Nội nên trọng tâm của Việt Nam Cộng Hòa không phải là lập lại hòa bình mà vẫn phải là củng cố khả năng tự vệ bằng quân lực và chính trị …. Tôi hy vọng lịch sử sẽ soi sáng những vùng tối trong tương lai…

    Hiệp định Paris là liều « thuốc hiện hình » đã cho thấy ai là kẻ hiếu chiến… người Cộng sản hãnh diện họ là người lính tiền phong của xã hội chủ nghĩa đứng trên tuyến đầu chống tư bản chủ nghĩa….

    Sáng kiến vận động phục hồi Hiệp định Paris 1973 của « Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH » :

    Luật sư Trần Thanh Hiệp : « Tôi có nghe thấy và đọc một số thông tin về sáng kiến làm sống lại Hiệp định Paris. Tôi không nắm rõ được tình hình nên không muốn khẳng định rằng hiện đã có kế hoạch nào để thực hiện hay không ? Nhưng, với tư cách là một người đã từng tham dự hòa đàm Paris, với kinh nghiệm chuyên môn về luật quốc tế , với kinh nghiệm bản thân từng chứng kiến mọi biến cố lịch sử trọng đại từ 1945 đến nay, tôi có thể nói ý nghĩ thầm kín của của tôi là Hiệp định Paris tuy nói là chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình tại Việt Nam nhưng dường như chỉ là một « cái xác không hồn », văn tự thì đề cao nhân nghĩa nhưng cách ứng xử của một trong những thành phần tham gia thì chỉ là một loạt tội ác…

    Do vậy, đặt lại vấn đề làm sống lại Hiệp định Paris thì cũng không thể giải quyết gì được chuyện tương lai đất nước. Chi bằng cả nước dồn nỗ lực làm sống lại lý tưởng đoàn kết dân tộc, xây dựng dân chủ tự do, mang lại nhân phẩm cho mỗi con người Việt Nam mà Hiệp định Paris đã xưng tụng, thiết kế thực hiện nhưng hiệp định này đã bị dìm chết. Quốc tế và Cộng sản Hà Nội đã làm lỡ dịp may này »

    • Lê Dân Việt says:

      Nếu là người đoàng hoàng, thì không nên núp bóng dưới tên của một người khác để mượn oai hùm che đây sự yếu đuối của mình khi phát biểu.

      Còn nếu lên đây để xả rác vì được thuê mướn thì cũng phải tự biết xấu hổ với chính mình chứ, sao lại có những hạng người bỉ ổi vô liêm sỉ đến mức này vậy?

      • An Bình says:

        Ông Lê Dân Việt nên thảo luận về những ý kiến của cụ các cụ Bùi Diễm, Trần Thanh Hiệp hay Nguyễn Hữu Thống. Tại sao ông lại thắc mắc một cách vô ích và thiếu lịch sự về chuyện ai đã phổ biến nguyên văn các bài phỏng vấn này lên mạng ĐCV. Lê Dân Việt có thể cũng chỉ là cái tên giả tạo mà thôi, do đó ông thắc mắc làm chi. Câu hỏi đặt ra cho ông là là ông đồng ý hay không đồng ý với ý kiến của họ và tại sao.

      • Lê Dân Việt says:

        @An Bình,

        Dùng tên gì trên diễn đàn này cũng được, nhưng mượn danh những người đang sống để tranh luận là một điều nên tránh, vì có thể làm ngộ nhận làm phương hại đến những người đó.

        Không cần giải thich với bạn về tên của tôi, thật hay giả thì có gì là quan trọng, nhưng chắc chắn là không mạo danh của bất cứ một ai đã một thời hùng bá.

        Tôi đã tranh luận nhiều về vấn đề này, bạn tự hiểu tôi đồng ý hay không đồng ý với cụ Bùi Diễm, Nguyễn Hữu Thống…

  4. Bùi Diễm says:

    Nước Chẩy Qua Cầu …

    BBC đã phỏng vấn Ông Bùi Diễm về Hiệp Định Ba Lê 1973 vào ngày 20-1-2013 vừa qua. Cuộc phỏng vấn dài khoảng 14 phút. Dưới đây là phần cuối nói về việc phục hồi hiệp định này. Ông Bùi Diễm là cựu đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ và cựu quan sát viên của VNCH tại cuộc hòa đàm Ba Lê.

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2013/01/130120_buidiem_paris1973.shtml

    BBC: Gần đây chúng tôi có nghe thấy một phong trào hay trào lưu muốn phục hồi Hiệp Định Ba Lê, thậm chí để đòi công lý cho miền Nam Việt Nam, được hiểu là VNCH. Ông nghĩ thế nào về phong trào này về tính khả thi và tính thực tế của nó? Ông nghĩ gì về những chỉ trích đối với phong trào này?

    Ô. Bùi Diễm: Trước hết, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp Định Ba Lê, trở lại để nói về Hiệp Định Ba Lê cũng là điều có ích, bởi vì càng đi sâu để phân tách tình hình thời đó dưới ành sáng của tình hình trên thế giới và tình hình ở đất nước Việt Nam trong lúc này, việc trở lại nghiên cứu Hiệp Định Ba Lê đó cũng là việc có ích.

    Nhưng mà theo tôi nghĩ, đây là ý kiến cá nhân của tôi, còn nhiều người khác dĩ nhiên cũng có ý kiến khác. Tôi đã nghĩ nước chẩy qua cầu. Bây giờ 40 năm rồi, nếu nói chuyện nước chẩy qua cầu, cũng đã qua 40 cái cầu rồi. Trên thế giới không có dân tộc nào thương dân tộc Việt Nam tới cái mức độ mà bảo rằng lại muốn đưa lải Hiệp Định Ba Lê nữa.

    Trong lịch sử của thế giới cũng như trong lịch sử của những cuộc chiến tranh, đã bao nhiêu lần mà bảo rằng không có công lý, không có gì đúng với nguyện vọng của dân tộc này hay dân tộc khác và cũng không ai trở lại các chuyện đó. Thành thử ra, tôi nghĩ là nếu trở lại Hiệp Định Ba Lê chỉ để mà nghiên cứu một cách có thể nói tường tận để đưa ra những bài học của lịch sử. Còn trên thực tế rất khó lòng có thể có một nước nào trên thế giới mà lại đưa lại Hiệp Định Ba Lê và lên án những người vi phạm.

    • Lê Dân Việt says:

      Bây giờ lại lòi ra một tên mạo danh ông Bùi Diễm, góp ý mà tôi phát hiện ra cái góp ý của ông Bùi Diễm dởm này, giống y như đúc, không sai một chử nào với ý kiến của ông NQK trong của chính ông ta: “Phục hồi hiệp định Paris uớc mơ hoang tưởng của một nhóm người, ác mộng của nhiều người,” tôi copy lại ở phần dưới để mọi người theo dõi và xem xét. Không biết ông Bùi Diễm dởm này có họ hàng bà con gì với NQK không nhỉ????

      NQK says:
      27/01/2013 at 19:20

      Nước Chẩy Qua Cầu …

      BBC phỏng vấn Ông Bùi Diễm về Hiệp Định Ba Lê 1973. Cuộc phỏng vấn dài khoảng 14 phút. Dưới đây là phần cuối nói về việc phục hồi hiệp định này. Ông Bùi Diễm là cựu đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ và cựu quan sát viên của VNCH tại cuộc hòa đàm Ba Lê.

      20-1-2013 ( chỉ khác ở chỗ thêm ngày tháng này-LDV)

      http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2013/01/130120_buidiem_paris1973.shtml

      BBC: Gần đây chúng tôi có nghe thấy một phong trào hay trào lưu muốn phục hồi Hiệp Định Ba Lê, thậm chí để đòi công lý cho miền Nam Việt Nam, được hiểu là VNCH. Ông nghĩ thế nào về phong trào này về tính khả thi và tính thực tế của nó? Ông nghĩ gì về những chỉ trích đối với phong trào này?

      Ô. Bùi Diễm: Trước hết, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp Định Ba Lê, trở lại để nói về Hiệp Định Ba Lê cũng là điều có ích, bởi vì càng đi sâu để phân tách tình hình thời đó dưới ành sáng của tình hình trên thế giới và tình hình ở đất nước Việt Nam trong lúc này, việc trở lại nghiên cứu Hiệp Định Ba Lê đó cũng là việc có ích.

      Nhưng mà theo tôi nghĩ, đây là ý kiến cá nhân của tôi, còn nhiều người khác dĩ nhiên cũng có ý kiến khác. Tôi đã nghĩ nước chẩy qua cầu. Bây giờ 40 năm rồi, nếu nói chuyện nước chẩy qua cầu, cũng đã qua 40 cái cầu rồi. Trên thế giới không có dân tộc nào thương dân tộc Việt Nam tới cái mức độ mà bảo rằng lại muốn đưa lải Hiệp Định Ba Lê nữa.

      Trong lịch sử của thế giới cũng như trong lịch sử của những cuộc chiến tranh, đã bao nhiêu lần mà bảo rằng không có công lý, không có gì đúng với nguyện vọng của dân tộc này hay dân tộc khác và cũng không ai trở lại các chuyện đó. Thành thử ra, tôi nghĩ là nếu trở lại Hiệp Định Ba Lê chỉ để mà nghiên cứu một cách có thể nói tường tận để đưa ra những bài học của lịch sử. Còn trên thực tế rất khó lòng có thể có một nước nào trên thế giới mà lại đưa lại Hiệp Định Ba Lê và lên án những người vi phạm.

      Reply

  5. Phạm Quang Tuệ says:

    Nước chẩy qua cầu …

    Cụ Bùi Diễm chắc là thất vọng lắm vì hơn 30 năm dậy dỗ anh học trò Nguyễn Ngọc Bích làm chính trị nhưng anh này coi bộ thích múa hơn là có khả năng làm chánh khách. Mạo hiểm vào con đường chánh phủ lưu vong đã thân bại danh liệt rồi, lại còn chui vào cái bẫy phục hồi hiệp định Ba Lê không lối thoát. Tướng lo đánh giặc, thi sĩ lo làm thơ. Từ môt ông trí thức chuyên về ngôn ngữ học, nhờ gia đình quen biết với ông tướng phường chèo Nguyễn Cao Kỳ nhẩy sang làm thông tin mà không có kinh nghiệm. Rồi đi vào chánh trị. Tình trạng mới thành bi đát như vậy.

    Cách đây vài năm, ông Nguyễn Ngọc Bích mò mẫm đi gặp Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Gia Khiêm. Chưa ai biết chuyện gì đã xẩy ra, có liên quan gì đến nghị quyết 36 hay không vì ông Bích vẫn dấu diếm cộng đồng hải ngoại. Vào khoảng thời gian đó, ông chủ nhiệm Báo Người Việt cũng gặp gỡ phái đoàn cao cấp CSVN trong đó có Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng bây giờ. Những trí thức hải ngoại khác được CSVN mơn chớn là BS Bùi Duy Tâm, GS Nguyễn Mạnh Hùng, GS Lê Xuân Khoa, BS Tôn Thất Chiểu, TS Lê Phước Sang, v.v.

    May mà việc phục hồi Hiệp Định Ba Lê sẽ mãi mãi chỉ là ảo mộng của mấy kẻ ngủ mơ ban ngày. Nước chẩy qua cầu. Hiệp Định Ba Lê đã chẩy qua 40 cái cầu rồi như cụ Diễm nói. Không một chánh phủ nào sẽ mở cửa đón tiếp gánh xiếc Diên Hồng Bolsa. Nhưng tui cũng đồng ý với ông Thượng Đình rằng “… nếu nhóm chính phủ lưu vong của ô. Nguyễn Ngọc Bích vẫn tin tưởng vào chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris, tôi chúc họ may mắn. Hi vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau trên diễn đàn Đàn Chim Việt nhân dịp 41 năm ký Hiệp Định Paris 27-1-2014 hoặc sớm hơn …”

    • Trung Kiên says:

      Còm trên đây của bạn Phạm Quang Tuệ không khai sáng được gì trong việc thảo luận, mà nặng về bươi móc và đả kích cá nhân. Mong rằng những “còm” như thế này sẽ không xảy ra nữa.

      Chúc bạn sức khoẻ, kiên trì và nhiều nghị lực.

    • Tien Ngu says:

      Thầy phán quá xá hay, chí lí…

      Anh học trò Bích này coi bộ…bệ rạc vậy, bà con nên…nhổ phẹt phẹt ông ta. Tất cả chúng ta nên bái ông Phạm quang Tuệ mần sư phụ….

      Tiên Ngu tình nguyện bên gối sư phụ mà nghe lời…hay hơn, về cái việc…không nên phí thì giờ mà ti toe với…ảo mộng.

      Xin được lắng nghe lời sư phụ về…thực mộng.
      Ra sao, sư phụ?

    • An Binh says:

      Bà con cũng cần biết về bản chất của cụ Nguyễn Ngọc Bích. Thói đời, chánh trị gia nào cũng biết nói hay, viết giỏi cà, nhân danh toàn những thứ cao quý nhất trên đời cà. Nhưng mục tiêu thầm kín của họ khó mà biết được. Qua vụ lập chính phủ lưu vong – phục hồi hiệp định Ba Lê tôi rất nghi nghi ngờ mấy ông này. Ta cứ cảnh giác như thế. Rồi xem thực hư ra sao. Tôi nên tìn ai, ông Nguyễn Ngọc Bích hay các cụ Trần Thanh Hiệp – Bùi Diễm – Nguyễn Hữu Thống? Ba người sau là những người đã vào sanh ra tử với hiệp định Ba Lê. Tôi phải tin các cụ này thôi.

Phản hồi