|

Vì sao tôi viết?

Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm.

Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.

Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “20 năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: Phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.

Nhưng, hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ.

Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; Cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; Con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh… được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày[1], Thép Đã Tôi Thế Đấy[2]… Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.

Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kinh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam… Chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới.

Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong[3], một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù, đã kiệt quệ sau 8 năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô, vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy…

Mùa Hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ như Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Huỳnh Thanh Diệu, Nguyễn Tuấn Khanh, Huy Đức… Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Cam Ly, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức Tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích.

Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Gần như không mấy ai để ý đến câu nói đó của Tuấn Khanh nhưng tôi thì cứ bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách.

Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975, cũng trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980s, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”[4], như “Z 30”[5] cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.

Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975. Ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế chính trị học và các nhà xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi, đơn giản chỉ bắt đầu kể những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo; đánh tư sản; đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970s, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, nói về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.

Tư liệu cho cuốn sách được thu thập trong hơn hai mươi năm và trong vòng ba năm (từ tháng 8-2009 đến tháng 8-2012) tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để viết. Bản thảo cuốn sách đã được gửi tới một số thân hữu và một số nhà sử học, trong đó có 5 nhà sử học hàng đầu của Mỹ chuyên nghiên cứu về Việt Nam. Sau khi sửa chữa, bổ sung, tháng 11-2012, bản thảo hoàn chỉnh đã được gửi đến một số nhà xuất bản trong nước, tuy nhiên, nó đã bị từ chối. Cho dù một số nhà xuất bản tiếng Việt có uy tín tại Mỹ và Pháp đồng ý in, như để lãnh trách nhiệm cá nhân và giữ cho cuốn sách một vị trí khách quan, tác giả quyết định tự mình đưa cuốn sách này đến tay bạn đọc.

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, chắc chắn sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng, bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc.

Sài Gòn – Boston (2009-2012)

Theo Osin Facebook

———————————————-

[1] Tiểu thuyết cách mạng của Trung Quốc.

[2] Tiểu thuyết cách mạng của Liên Xô.

[3] Đạo diễn điện ảnh.

[4] Tổ chức cho người Hoa nộp vàng để được vượt biên bán chính thức (1978-1979).

[5] Cải tạo những người giàu lên bất thường (1983).

7 Phản hồi cho “Vì sao tôi viết?”

  1. Đ V Phúc says:

    Cuốn sách Bên Thắng Cuộc của nhà báo Huy Đức vừa phổ biến trên internet đã gây ra những phản ứng sôi nổi trong cộng đồng người Việt tị nạn trong mấy ngày qua.
    Rất nhiều người Việt hải ngoại tỏ vẻ vui mừng khi đọc thấy Huy Đức viết ra rõ ràng đầy chi tiết những sự kiện lớn như (1) Cải tạo Công thương nghiệp, (2) Nạn kiều người Hoa, (3) Tù cải tạo… để gần như chê trách, lên án những người cầm quyền Cộng Sản; đồng thời khi viết về các lãnh tụ, quân nhân miền Nam, tác giả lại dùng những từ ngữ có tính trân trọng (như gọi Tổng Thống Thiệu, Đại Tướng Cao Văn Viên, Quân Lực VNCH…). Họ bày tỏ sự hài lòng và phổ biến qua điện thư, diễn đàn để giới thiệu như là một tác phẩm có tính khách quan, phản kháng lại với nhà cầm quyền Việt Cộng.
    Lại không ít người thì bày tỏ sự nghi ngờ, dè dặt; và thậm chí có người lên án tác phẩm như một phương tiện tuyên truyền kín đáo của Hà Nội nhằm dễ dàng xâm nhập vào cộng đồng chống Cộng ở hải ngoại.
    Trước tiên, chúng ta cần biết rằng hiện nay đang có nhu cầu giải độc, và tác giả lại là một người từ trong lòng xã hội CS, do đó, có quan điểm, góc nhìn hạn chế hoặc rất khác với chúng ta trong các vấn đề chính trị xã hội Việt Nam cận đại.
    Đảng Cộng Sản Việt Nam, sau hơn nửa thế kỷ cai trị đã gây ra vô vàn tội ác đối với Tổ quốc và nhân dân. Đó là điều hiển nhiên, không ai có thể phủ nhận hay biện minh, dù là người trong nước, người từng tham gia, ủng hộ cho Cộng Sản.
    Ngày nay, trước cao trào dân chủ của nhân dân, những người Cộng sản đang tìm cách tẩy rửa những tội ác tày đình, những vết nhơ bạo lực để xoa dịu quần chúng bằng cách đổ lỗi về những sự tàn bạo, vô lương của chính sách cai trị lên đầu những cá nhân hoặc đã qua đời, hoặc đã rời những chức vụ trong đảng và chính quyền.
    Để biện minh cho những tội ác mà Hồ Chí Minh đảng Cộng Sản đã gây ra cho dân tộc trong hơn nửa thế kỷ qua, hầu hết những người cựu cán bộ Cộng Sản mà chúng ta biết đến qua danh xưng “phản tỉnh” đều tập trung vào việc lên án các bọn thủ phạm gây ác là “thoái hoá, biến chất…” Họ cho rằng những tội ác đều là hiện tượng trong những hoàn cảnh, giai đoạn nào đó. Như thế, có khác nào họ mặc thị cho rằng những đảng viên CS không biến chất đều là những người tốt. Họ gần như hoàn toàn không nhìn thấy cái ác vốn là bản chất của chủ nghĩa Cộng Sản và được thi hành thông qua những đảng viên thuần thành.
    Khi đề cập đến việc quá tàn khốc trong việc đánh tư sản, tác giả Huy Đức gán tội ác đó cho cá nhân Đỗ Mười là người chỉ huy chiến dịch đánh tư sản, trong lúc nêu ra những than phiền của Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh và các đảng viên cao cấp khác; coi những đảng viên CS này không nhuốm máu dân lành vô tội.
    Theo ông Nguyễn Văn Trân, viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương: “Khi bắt đầu chiến dịch, Bộ Chính trị chuyển anh Nguyễn Văn Linh sang làm Dân vận rồi đưa anh Đỗ Mười vào vì anh Đỗ Mười đã làm cải tạo công thương nghiệp ở Hà Nội. Anh Mười vào Sài Gòn áp dụng y chang những gì đã làm ở miền Bắc trong năm 1960”. Theo ông Hoàng Tùng: “Năm 1955, khi đánh tư sản ở Hải Phòng, Đỗ Mười cũng cho xóa sạch”. Ông Hoàng Tùng thừa nhận là thoạt đầu ông đã cùng ông Đỗ Mười vào Nhà khách Trung ương tại Sài Gòn (T78), viết bài ủng hộ chiến dịch này, nhưng sau thấy Đỗ Mười đánh cả tiểu thương ông bỏ về. Ông Mười hỏi: “Sao về?”. Hoàng Tùng nói: “Tôi theo anh, tôi sa lầy”.
    Sự thật thì việc đánh tư sản ở miền Nam năm cũng là sự lặp lại việc đánh tư sản đã xảy ra ở miền Bắc hàng chục năm trước. Cũng là phó bản của chến dịch cải cách ruộng đất đã làm chết oan ức hàng trăm ngàn nông dân trong thhời gian 1953-1954.
    (Bên Thắng Cuộc, trang 45)
    Huy Đức cố tình quên rằng cái chính sách căn bản của chế độ lấy học thuyết Cộng Sản làm kim chỉ nam; dựa trên hai phạm trù đấu tranh giai cấp và bạo lực cách mạng.
    Những người miền Nam, nói rộng ra, những người không Cộng Sản đều có cách nhìn độ lượng, đa phương; do ảnh hưởng lối giáo dục dân chủ tự do, và những giáo lý đầy nhân ái của các tôn giáo. Phe Quốc Gia dù có chính nghĩa, có những thành viên học cao, hiểu rộng, được đào tạo đến nơi đến chốn; nhưng lại có cách nhìn dễ dãi, hời hợt trong các vấn đề chính trị. Vì thế, liên tiếp trong nhiều thập niện, trước hoặc sau 1975, trong chiến tranh võ lực cũng như chiến tranh chính trị, đều nhiều lần sụp vào cái bẫy lắt léo của Cộng Sản mà đã dẫn đến mất miền Nam cũng như đang bị VC lấn sân tại hải ngoại.
    Trong khi đó, những người Cộng Sản thì luôn luôn nghi kỵ, nhìn sự việc bằng một lăng kính quan điểm soi mói tận tường để không bị sơ hở. Và cũng thế, khi hành động hay phát ngôn, họ đều thận trọng chọn lựa sao cho mục đích chính trị của họ phải hàm chứa trong từng việc làm, từng câu, từng chữ.
    Tác giả Huy Đức sinh ra ở miền Bắc, mới 13 tuổi khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Chắc chắn ông ta đã hấp thụ giáo dục của đảng CS và từng “phấn đấu” để trở thành đoàn viên, đảng viên đảng Cộng Sản. Vì nếu không là đoàn viên, thì không dễ gì trở thành một nhà báo; và nếu không phải là đảng viên, thì nhà báo đó không dễ gì gần gủi với các cấp lãnh đạo chóp bu để trò chuyện, phỏng vấn. Nên nhớ, năm 1983, Huy Đức đã được chọn đi Kampuchea với tư cách chuyên gia quân sự.
    Dĩ nhiên, cũng như các cán binh Cộng Sản khi tiếp xúc lần đầu với miền Nam phồn thịnh, họ đều vỡ mộng và nhìn nhận một thực tại cay đắng. Đó là sự thua kém mọi mặt của chế độ miền Bắc mà tuyên truyền bịp bợm của Cộng Sản đã che đậy, lừa bịp họ. Những Dương Thu Hương, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Anh Kim cũng đã từng viết ra những điều trên. Nay đến lượt Huy Đức.
    Trong một bài viết dài 8 trang in chữ nhỏ, không có tựa đề của nhà báo Phạm Đình Trọng đã nêu ra nhiều vấn đề sai lầm, tội ác của nhà cầm quyền Hà Nội để lên án sâu sắc bọn lãnh đạo, và chính ông ta cũng thú nhận chủ nghĩa CS là sai lầm. Có lẽ vì các luận điểm đó mà một nguyệt san của lính VNCH tại Nam Cali đã đăng với lời giới thiệu nồng nhiệt như một sự việc hiếm có… Nhưng có ít nhất bốn đoạn trong bài viết, tác giả đã ca ngợi một thời kỳ lẫm liệt, một khí thế dũng mãnh “toàn dân một lòng” trong cuộc chiến “Chống Mỹ cứu nước” và mặc thị vinh danh những lãnh đạo CS thời đó như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng…
    Nếu con em những người lính VNCH nói riêng, và đồng hương tị nạn nói chung, tin rằng một khi báo lính đã chọn đăng thì bài đó chắc chắn đáng tin cậy về những chi tiết lịch sử; họ sẽ có cái nhìn vô cũng sai lạc về bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam, và chắc sẽ đem lòng tôn kính đối với bọn lãnh tụ CS thời đó. Hõ sẽ coi những người lính VNCH chỉ là bọn đánh thuê của ngoại bang, trong khi đảng CS có công giải phóng dân tôc!!!
    Vì cuốn sách dày nhiều trang, chứa đựng nhiều vấn đề; mà bài viết này thì chỉ có hạn, chúng tôi chỉ xin trích dẫn ra một đoạn sau để thấy tác giả Huy Đức đang chuyển cái tội ác của đảng CSVN qua vai “một vài cá nhân” , vì “nhiều người là ủy viên Bộ Chính trị cũng không được biết”. Ông ta cũng cho rằng ngoài bọn thoái hoá biến chất gây tội đó, thì “những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm”
    Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”4, như “Z30”5 cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ Chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.
    (Bên Thắng Cuộc, trang 9)
    Trong chương 2 nói về “cải tạo”, là một kế hoạch trả thù thâm độc, tàn ác của “Phía Thắng Cuộc”, Huy Đức chỉ mới dám nhận rằng
    Cho tới đầu thập niên 1990, quan điểm của Đảng về việc tập trung cải tạo vẫn còn khắc nghiệt
    (BTC, trang 38)
    Vì đã có nhiều nhà bình luận lên tiếng về cuốn sách Phía Thắng Cuộc, phân tích trên nhiều khía cạnh nội dung; chúng tôi không dám đi xa hơn mà chỉ nêu lên một điểm chính:
    Huy Đức là người sinh ra, lớn lên, được giáo dục trong chế độ CS, từng phục vụ đắc lực chế độ. Ngày này, nếu anh nhìn thấy và nói lên được đôi chút sự thật thì chúng ta cũng ghi nhận thiện ý đó. Nếu không khe khắt để nhìn đây là tác phẩm có tính tuyên truyền khéo léo, che đậy, gỡ nguy cho đảng CS, thì cũng phải nhận rằng Huy Đức còn nhiều giới hạn mà những điều anh viết ra tuy có thật, nhưng chưa nêu ra hết cái gốc, cái nhân của sự việc. Đó là sự tàn bạo bản chất của chủ nghĩa Cộng Sản và những kẻ tôn thờ chủ nghĩa đó.
    Nhưng chúng tôi cũng cám ơn Huy Đức đã tiết lộ nhiều tên tuổi miền Nam mà trước đây chúng tôi tuy biết là Việt Gian, Việt Cộng, nhưng thiếu bằng chứng cụ thể. Nay do chính một nhà báo Việt Cộng viết ra thì coi như chắc nịch (trường hợp Trần Kiêm Đoàn hiện định cư ở Sacramento, California).
    Ở Huế, chiều ngày 21-9-1975, Hiệu phó kiêm Bí thư Đoàn trường Nguyễn Tri Phương Trần Kiêm Đoàn được Thành đoàn Huế giao phối hợp với Đoàn trường Đồng Khánh, dẫn 200 đoàn viên theo cửa Thượng Tứ vào Đại Nội. Trước khi đi, Thành đoàn ra lệnh: “Chuẩn bị khăn gói, thức ăn ba ngày, sẵn sàng chiến đấu”. Ông Đoàn kể: “Tụi tôi hồi hộp: Mỹ quay lại hay binh lính Sài Gòn nổi dậy? Tới 3 giờ sáng thì mới hay tin sáng mai đổi tiền. Khi ấy tôi còn trẻ, hào hứng với những cái mới nên nghe nói một đồng tiền mới giá trị bằng 500 đồng tiền cũ cũng có cái gì đó tự hào. Sáng ra vẫn tả xung hữu đột đôn đốc đoàn viên hoàn thành nhiệm vụ”.
    (BTC, trang 41)
    Mấy năm trước đây, khi Hoàng Minh Chính lên tiếng công khai chống đảng; đã có nhiều người Việt hải ngoại tang bốc, tôn sùng ông ta, thậm chí còn áo dài khăn đóng quỳ lạy trước di ảnh của ông ta mà quên rằng ông ta chỉ chống đảng đương quyền chứ không hề chống lại chủ nghĩa Cộng Sản. Thái độ vồn vập này cũng được dành cho cả Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ, Bùi Tín… là bọn đồ tể đã nhuốm bao nhiêu máy đồng đội, đồng bào chúng ta
    Những người Quốc Gia đang hoạt động rất cần thiết phải đọc những bài vở, sách báo của CS để nghiên cứu nội tình của họ; biết khai thác những chi tiết mới để làm lợi cho sự đấu tranh. Nhưng luôn phải tỉnh táo để nhận thấy những mục tiêu thầm kín qua những câu văn có vẻ như đứng ở “phe mình”
    Xin phép mượn một thành ngữ bình dân để kết luận cho bài này
    Chớ tưởng bở!!!
    Đỗ Văn Phúc
    December 19, 2012.

  2. thai le says:

    -Tôi cũng rất thích tất cả những bài viết của tác giả Huy Đức,lớn hơn bạn không bao nhiêu tuổi nhưng đã chứng kiến ĐẠO ĐỨC của kẻ chiến thắng đã đối xử với người thua cuộc cho dù hàng chục triệu người dân miền Nam hoàn toàn vô tội vẫn bị trả thù,chỉ hy vọng lòng can đảm của bạn cùng mọi người đồng hành để cuốn sách được phát hành rộng rãi với nhiều hình thức.

  3. Hung Cali says:

    Toi rat tam dac voi nhung bai viet cua Huy Duc tren mang, khi sach duoc in, xin DCV thong bao dum. Chuc mung tac gia HD va xin chuc binh an.

  4. Builan says:

    Chaò tác giả HUY ĐỨC
    Tôi có được phép copy bài viết nầy- gơỉ qua e-mail – cho bà con thân quyến- bạn hưũ ở HAỈ NGOẠI và QUỐC NỘI cùng đọc dể cùng nhau đón chào tác phâm

    VÌ SAO TÔI VIẾT không nhĩ ???

    Tác giả làm cho tôi nhứ về những chuyến xe đò PHY LONG- TIẾN LỰC…. cuả một ” thời vang bóng” – Đơn giản chỉ có thế mà xúc động đến ưá nước mắt !!!

    Tôi laị bật cười khi nhớ vế chuyến đi “Tử Bắc sinh Nam”- May thay KHÔNG TỬ !!!
    .@ ….Tàu lửa từ Haĩ Phòng đên ga Yên Baí, tưởng như mốn nhaỹ khoỉ đương rây lúc nào không biết !! Còn bị BÀCON XHCN ưu viết ném đá tôí mặt tôuí mày, suýt vong mạng-…
    Đến YÊN BAI laị nghe BÀ CON tỏ vẽ ngạc nhiên- Noí bằng tiếng người
    “NGUỴ MA CŨNG BIẾT NOÍ TIẾNG VIỆT !!! ” -
    Trẻ con và cả người lớn ” thất vong” tò mo tìm kiếm CAÍ ĐUÔI cuả bọn ” NGUỴ ĂN THỊT NGƯỜI” , nhưng không thấy !!!…………

    Cho đến bây giờ, môĩ lần muốn cười duyên trong những dịp chụp hình ! Tôi đều vận đông trí não nhớ về BÀ CON MIỀN BĂC với nhửng aí đầu thật đang thương được THẰNG BÁC và caí đảng CS ôn dich cuả hắn ta nhồi imột mớ ….. ( không biết phaỉ goị là mớ gì) hìhìhì !
    Thể hiện bằng những suy nghĩ- phát ra câu noí !!!

    THẦY CHẠY !!!

  5. Tran Thien Di says:

    Tôi tin rằng nếu cuốn sách đến được tay bạn đọc sẽ là một tài liệu qúy vì 3 lý do:
    1) Tính trung thực
    2) Tài năng của tác giả.
    3) Lòng dũng cảm

    Tôi rất khâm phục Huy Đức. Từ lâu tôi thích đọc bài của anh.
    Anh không bẻ cong ngòi bút để đổi lấy những ơn mưa móc như bao nhiêu kẻ khác.
    Mong anh mạnh giỏi viết nhiều hơn
    Cảm ơn Huy Đức
    Tran Thiên Di

  6. Tran Gia says:

    Rất mong được đọc cuốn sách này của Huy Đức.
    Khi nào có trên thị trường, nhờ các bạn mách dùm.

    Nhưng có lẽ tác giả sẽ phải đương đầu với những thủ đoạn không thể lường trước được
    Trần Gia

  7. noileo says:

    Xin đuọc có lời chào mừng tác phẩm và tác giả Huy Đức. Nóng lòng mong đợi đuọc đọc cuốn sách mới!

Phản hồi