|

Hạc Cầm Miến Điện

Hạc Cầm Miến Điện, The Burmese Harp là một cuốn phim cổ điển của Nhật quay năm 1956 tại Miến Điện, đen trắng dài 116 phút do đạo diễn Kon Ichikawa thực hiện, dựa theo truyện của Takeyama Michio và Natto wada, nhà Sản xuất Masayuki Takaki.

379_burmese_original

Tài tử chính gồm Shoji Yasul (vai Mizushima), Rentaro Mikuni (vai Đại uý Inouye). Phim đã đoạt giải thưởng OCIC và San Giorgio tại Đại Hội Điện Ảnh Venise năm 1956, Giải ưu hạng tại Đại Hội Mainichi film Concours của Nhật năm 1957. Năm 1957 được vào Chung kết Giải Oscar Mỹ dành cho phim nói tiếng ngoại quốc hay nhất trong năm. Năm 1956 vào Chung Kết Giải Sư Tử Vàng Đại Hội Điện Ảnh Venice . Năm 1985 nhà đạo diễn Kon Ichikawa đã thực hiện lại (remake) Hạc Cầm Miến Điện bằng phim mầu và các tài tử khác nhưng không thành công bằng phim cũ, chỉ được một vài giải thưởng nhỏ. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới cuốn phim đen trắng quay năm 1956 nêu trên.

Hạc cầm Miến Điện có tinh thần chống chiến tranh và chịu ảnh hưởng giáo lý nhà Phật.

Một điều lạ ở đây là phim này lấy đề tài Thế Chiến Thứ Hai, một đề tài rất ít khi thấy Người Nhật khai thác, đa số phim nghệ thuật của họ lấy đề tài về võ sĩ đạo thời trung cổ hoặc về ma quỉ. Đáng chú ý nữa là quân đội Nhật nổi tiếng tàn ác trên thế giới nhưng phim này cho ta thấy hình ảnh người lính Nhật hiền lành, có đạo đức, đầy tình thương nhân loại, phim cũng thể hiện tràn trề tinh thần từ bi bác ái bao la của Thích Ca Mâu ni trước nỗi khổ đau không cùng của con người.

Các nước Âu Mỹ đã thực hiện nhiều phim tố cáo những hành vi bạo ngược của quân Nhật tại các trại tù Á Châu thời Đệ Nhị Thế Chiến như Cầu Sông Kwai, phim Mỹ quay 1958; Đời Tôi Bắt Đầu Tại Mã Lai, phim Anh, thập niên 50; Road To Paradise, Mỹ thập niên 90… Người Pháp nói Bên này dẫy núi Pyrénée là sự thật, bên kia là sai lầm.

Hạc Cầm Miến Điện được thực hiện trong thời kỳ cực thịnh của nền Điện ảnh Phù Tang hồi thập niên 50, 60. Người Tây Phương bắt đầu chú ý đến Điện ảnh Nhật qua phim Rashomon của Akira Kurosawa quay 1950, đoạt giải Sư tử bạc Đại Hội Điện ảnh Venice và giải Oscar Mỹ, phim ngoại quốc hay nhất trong năm, đó là cuốn phim thành công đầu tiên của Nhật gây được tiếng vang trên thế giới. Kế đó những phim Bẩy Người Hiệp Sĩ, Người Phu Xe, Địa Ngục Môn, Ughetsu… đoạt các giải thưởng ưu hạng tại các Đại Hội Điện ảnh Quốc tế tại Cannes, Pháp, Venice Ý… được Tây phương chú ý và được phát hành đi nhiều nước trên thế giới.

Trong số các nhà làm phim Nhật, Akira Kurosawa là nhà đạo diễn được Tây phương khâm phục nhiều nhất, ông được coi như nhà đạo diễn lớn nhất thế giới và là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến nền điện ảnh Mỹ cũng như điện ảnh thế giới (primal influence), có khoảng trên dưới 20 cuốn phim của các nước Mỹ, Trung Quốc, Hồng Kong, Pháp, Ý, Ấn… bắt chước hay chịu ảnh hưởng các phim của Akira. Riêng phim Bẩy Người Hiệp Sĩ quay 1954 của ông, đoạt sư tử bạc tại Venice đã có khoảng 10 phim bắt chước theo: The Magnificent Seven, 1960 ( Mỹ), The Return Of The Magnificent Seven, 1966 ( Mỹ), Gun Of The Maginficent Seven, 1969 (Mỹ), The Maginficent Seven, 1998 ( Mỹ), Beach Of The War Gods, 1973, Run Run Shaw (Hong Kong), Battle Beyond The Stars 1980 ( Mỹ) , World Gone Wild, 1988, (Hong Kong), Soley, 1975 ( Ấn), và gần đây năm 2002, Thất Kiếm, Trung Quốc, phim dàn cảnh vĩ đại, được coi là ăn khách nhất trong năm, chiếu khai mạc Đại Hội Điện Ảnh Venice .

Hạc Cầm Miến Điện lấy bối cảnh thời hậu chiến, nội dung tràn trề tình yêu nhân loại.

Sơ lược truyện phim.

… Mặt trận Miến Điện lúc Thế chiến gần kết thúc, quân đội Nhật bị Đồng minh truy kích, tấn công ráo riết. Một đại đội Nhật đang trên đường chạy về biên giới Thái Lan, một nước trung lập . Đại uý đại đội trưởng, nguyên là nhạc sĩ thường hay dậy lính hát, một anh binh nhì tên Mizushima đánh đàn hạc cầm Miến Điện rất hay, một loại đàn nhỏ có nhiều dây trong giống như đàn bầu của ta. Một hôm ông cho đại đội dừng quân giữa rừng rồi đưa tay đánh nhịp cho đại đội hát, khi ấy Mizushima gẩy đàn hoà theo, tiếng đàn du dương với âm điệu Tây phương nhẹ nhàng thanh thoát.

… Nước Nhật đầu hàng Đồng Minh, Đại uý đại đội trưởng tuân lệnh trên nạp vũ khí đầu hàng , Mizushima được cử đi thuyết phục một đại đội Nhật khác tại một ngọn núi cách hai trăm dặm, đi hai ngày mới tới. Tại đây đại đội này không chịu đầu hàng chỉ muốn chiến đấu tới cùng. Tới nơi anh cho họ biết mình là sứ giả hoà bình, nhiệm vụ là cứu mạng cho cả đại đội vì nếu không đầu hàng sẽ bị quân Anh pháo kích chết hết. Họ đã không nghe còn chửi mắng hành hung anh, xỉ vả chàng là đồ hèn nhát. Ông sĩ quan Anh chỉ cho suy nghĩ nửa giờ, đại đội vẫn ngoan cố không chịu hàng bị quân Anh pháo kích tấn công, hầu như đơn vị này bị hoàn toàn tiêu diệt.

Mizushima bị thương cố lết ra ngoài xa, anh được một nhà sư đem về săn sóc cứu chữa, một thời gian sau lành bệnh anh bỏ chùa ra đi rồi tìm những xác lính Nhật còn xót đem chôn. Có lần thấy một nhà sư đang tắm dưới suối, anh bèn lấy cắp áo cà sa của ông rồi chạy ra xa, cạo trọc đầu, mặc áo cà xa rồi chạy trở lại ngọn núi ấy gom xác lính Nhật lại lấy cây củi đốt. Anh dò tìm ra đại đội cũ của mình hiện trong trại tù binh do người Anh canh giữ, Mizushima bèn tìm đến ở một ngôi chùa gần đó xin qui y, người ta cho anh nhập giáo hội hành đạo.

Khi đại đội có dịp đi lao động hoặc ra ngoài trại, họ gặp một nhà sư trông giống y như Mizushima, nhiều người cho là anh vẫn còn sống, nhưng cũng có người nói chàng đã chết anh dũng không đầu hàng.

Một hôm đại đội đi ngang một cây cầu gỗ hẹp, ông Đại uý nhìn anh chăm chú, mọi người nhận ra anh đang khoác áo cà xa nhưng chưa dám quả quyết. Họ hay hỏi thăm tin tức một bà già thường vào trại mua đồ thủ công của tù binh và bán quà bánh cho họ, bà già cũng dò tìm tông tích ông thầy dùm họ. Mỗi lần gặp anh, họ thường bảo nhau “ ông thầy sao giống Mizushima quá”. Thế rồi đại đội được người Anh cho về nước, ai nấy khăn gói chuẩn bị lên đường. Đại uý nhờ bà già gửi ông thầy một con két, Đại uý đã dậy nó nói: “Mizushima về nước nhá”.

Họ thấy nhà sư trông giống y như Mizushima xuất hiện bên ngoài hàng rào trại, nhà sư đứng cạnh một chú đệ tử lên mười đang ôm cây đàn Hạc cầm Miến điện. Ông thấy lặng thinh không nói gì, anh em hỏi gì cũng không nói. Các anh em bảo nhau hát bài họ vẫn thường hát để dò thái độ của nhà sư. Khi anh em cất tiếng hát, nhà sư bèn lấy cây đàn Hạc cầm hoà theo, bây giờ thì mọi người đều biết đó là Mizushima. Họ bảo anh ngày mai được về nước tại sao anh không về. Ông thầy bèn chơi ngay bản tiễn biệt, bản đàn vừa dứt, ông thầy ôm đàn đi khuất sau ngôi chùa tháp.

Mọi người thu xếp đồ đạc lên đường về nước, bà già đem thư của ông thầy nhờ gửi Đại uý, ông này bận quá bảo để khi nào lên tầu sẽ đọc, ông thầy cũng nhờ bà già đưa Đại uý một con két nói “Tôi không về được”. Khi lên tầu ông đọc thư, Mizushima kể lại những này đã qua, anh hiện đã qui y, tình nguyện ở lại để tìm kiếm chôn xác những người đồng đội, xoa dịu những nỗi khổ đau của con người.

Cuốn phim nhuốm màu từ bi, bác ái nhà Phật. Khán giả vừa được thưởng thức những âm điệu du dương tuyệt vời của cây Hạc cầm lại được du lịch Miến Điện, xứ Phật nghèo nàn lạc hậu đầy những chùa tháp. Chủ đề sâu sắc, nội dung cảm động, nhạc hay, điều đáng tiếc kỹ thuật thu hình xưa cũ, lạc hậu.

Đây là một bi kịch thời hậu chiến, chủ đề chống chiến tranh, nội dung mang nhiều ý nghĩa nhân bản tràn đầy tình yêu nhân loại. Cũng là phim lấy đề tài trại tù thời chiến như Cầu Sông Kwai, Y Sĩ Thành Stalingrad nhà làm phim không có mục đích nói lên sự tàn ác của kẻ thắng trận mà ngược lại còn có khuynh hướng ca ngợi lòng nhân đạo của họ. Những phim Cầu Sông Kwai, Đường Lên Thiên Đàng.. người Anh, Mỹ chỉ trích sự tàn ác của quân Nhật đối với tù binh nhưng ngược lại ở đây người Nhật không những chẳng chỉ trích người Anh mà còn cho thấy kẻ chiến thắng đối xử với ho nhân đạo, những tù binh chết cũng được họ làm lễ cầu nguyện và an táng tử tế. Lối làm phim này cho ta thấy tinh thần cao thượng của họ khi nói đến kẻ thù. Khác với Tây phương Anh Mỹ.. người Đức, Nhật khi làm phim chiến tranh với tinh thần phản chiến không khoe khoang chiến thắng.

Phim có những đoạn vui, ngộ nghĩnh nhưng cũng đượm vẻ buồn mang mác nhất là đoạn cuối đã kết thúc bằng một cảnh cảm động đầy nước mắt. Đại đội tù binh Nhật ai nấy đều quan tâm tới Mizushima, họ tưởng anh đã chết trong trận đánh. Sau nhiều lần gặp nhà sư khoác áo cà sa với khuôn mặt giống hệt như anh họ lại nghĩ rằng anh còn sống, nhà sư chẳng ai khác hơn là anh chàng đánh đàn Hạc cầm hay tuyệt. Dần dần nghi ngờ đã thành sự thật, bà già thường hay ra vào trại cho biết tin tức nhà sư và sau cùng trước ngày tù binh lên đường về nước, nhà sư lại xuất hiện bên ngoài hàng rào của trại để chào từ giã anh em. Độc đáo nhất là cuộc “nhạc đàm”, họ đã lấy bản hợp ca và tiếng Hạc cầm du dương để nói chuyện trao đổi với nhau.

Thấy nhà sư yên lặng không nói gì, bọn tù binh bảo nhau.

- Mình thử đồng ca một bản thường hát ngày trước xem sao, nếu đúng là nó thì nó sẽ hát hay đàn theo.

Nói rồi mọi người cất tiếng đồng ca bản họ thường hát trong đại đội trước đây, ông thầy bèn lấy cây Hạc cầm trong tay chú đệ tử rồi gẩy một bản hoà theo, cũng vẫn bản Hạc cầm du dương thanh thoát ấy. Thế là hai bên đã nhận ra nhau, một vài anh vui mừng la lớn.

- Mizushima! Ngày mai tụi tao về nước, thế mày không muốn về à?

Người lính chiến đã xuất gia, qui y, nay tịnh khẩu chỉ trả lời bằng tiếng Hạc cầm thánh thót. Ông thầy vẫn lặng thinh bèn chơi ngay một bản đàn tiễn biệt, bọn tù binh bảo nhau.

- Nó đánh bản tiễn biệt tụi mày ạ!

Bản đàn vừa dứt, ông thầy ôm cây Hạc cầm đi khuất sau ngôi chùa tháp.

Hôm sau mọi người đang thu xếp đồ lên đường, bà già đem vào một bức thư rất dài nói là của ông thầy gửi cho Đại úy, ông này bèn cất thư đi bảo.

-Bây giờ đã tới lúc khởi hành, đọc thư không giải quyết được gì, thôi để lúc khác.

Ngoài ra con két do ông thầy gửi vào thường nói “ Tôi không về được” để trả lời Đại úy trước đó đã gửi con két nói “Mizushima về nước nhá”ù, đây là cuộc đối thoại độc đáo bằng hai con két.

Đoàn tù được đưa ra bến tầu về nước. Khi tầu đang lênh đênh trên mặt biển Đại úy mới đem thư ra đọc, bức thư rất dài dòng văn tự, bốn năm trang giấy.

… Mizushima kể lại từ ngày anh bị thương cho tới khi nương náu cửa thiền môn, anh cho biết mình đã bị thương rồi được một nhà sư cứu sống, ông mang anh về chùa chăm sóc nuôi dưỡng, nhà sư nói:” Dù người Anh hay người Nhật đóng tại đây, nước Miến Điện vẫn là xứ Phật”. Nay anh đã đượïc người ta cho nhập Giáo hội trở thành nhà sư, Mizushima tình nguyện ở lại để lo chôn cất xác những người Nhật tử trận tại đây….

… “Thưa Đại Uý, các bạn thân mến.

Tôi rất nhớ các bạn nhưng tôi không thể về đơn vị cùng các bạn, tôi không thể về thăm lại quê hương và xây dựng lại đất nước bị tàn phá cùng các bạn.

Dù rất nhớ các bạn nhưng tôi không thể về cùng các bạn, tôi không thể bỏ lại những xác chết đồng đội, những bộ xương của họ trên khắp các ngọn đồi nơi đây.

Khi leo lên những ngọn đồi để nhặt xác họ để đem chôn, đốt , tôi tự hỏi tại sao lại có những thảm kịch, những nỗi đau khổ như thế này, sao chúng ta không nói cho xã hội, loài người cùng biết? chúng ta phải góp phần vào sự xoa dịu những nỗi khổ đau của con người, ta phải cố gắng, dấn thân, đó là những lý do thúc đẩy tôi vào chùa học đạo. Khi nào làm xong những nghĩa vụ ấy có thể tôi sẽ trở về.

Thưa Đại uý nhưng tôi chưa biết khi nào tôi sẽ trở về, có thể tôi sẽ sống cho tới ngày cuối cùng tại nơi đây, miền đất đỏ của xứ Phật Miến Điện này….”

Bức thư dài bốn năm trang giấy, Đại uý dở đọc hết trang này tới trang khác khiến cho anh em ai nấy không cầm được nước mắt, nhiều người âm thầm khóc với những giọt lệ long lanh . Họ vô cùng cảm động về sự hy sinh cao thượng của Mizushima, người đã chọn ở lại để góp phần vào sự xoa dịu những nỗi khổ đau của con người. Mỗi lần Đại úy dở sang trang khác, lại có những dòng lệ tuôn rơi như không bao giờ dứt. Chính ông cũng nghẹn ngào khi đọc gần hết bức thư.
Người chiến sĩ đã đi tu, anh đã từ chối trở về đất nước để xuất gia đi tìm lý tưởng vị tha, một hình ảnh của Thái Tử Tất Đạt Đa cách đây trên hai ngàn năm trăm năm, từ bỏ lầu vàng cung điện để đi tìm phương giải thoát cho nhân loại. Mizushima tìm thấy hạnh phúc ở sự hy sinh cao cả, góp phần vào sự xoa dịu những nỗi khổ đau không cùng của loài người.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

7 Phản hồi cho “Hạc Cầm Miến Điện”

  1. td says:

    Một comment về văn hóa nghệ thuật chúng ta có thể bàn với nhau bằng lời lẽ vui vẻ, tao nhã tại sao phải chửi t/g bằng những lời lẽ rất mất dậy như

    “Nghe chẳng khác gì bác (Trọng Đạt) nhổ ra rồi liếm lại, quả rất chướng tai!
    (Lý chính Luận )

    Tôi thiết nghĩ diễn đàn là nơi để những người có văn hóa, hòa nhã thảo luận chứ đâu phải chỗ cho bọn đầu đường xó chợ chửi bậy
    Lý Chính Luận là ai mà vô học thế?
    Toàn bộ comment không có chỗ nào vui vẻ, xây dựng mà chỉ toàn những lời chửi bới y như bọn ma cô ma cạo

  2. Lý Chính Luận says:

    Cám ơn bác Trọng Đạt. Đọc bài này xong, tôi mới nhớ ra là đã có đọc một phần của cuốn sách này ở VN trước ngày trời sập, có tựa đề là “Cây Đàn Miến Điện”. Rất tiếc tôi không nhớ ai là người đã dịch sách này qua tiếng Việt. Lần đó, tôi cũng chưa đọc xong, vì là sách mượn của ông cậu nên phải hoàn trả cho đúng hẹn. Sau ngày 30/ 4, tôi hỏi cậu tôi, tính mượn nó lại để đọc cho xong phần cuối thì cậu tôi cho biết là nó đã bị ban văn hoá (hay vô văn hoá!) quận Thủ Đức tịch thu, trong đợt “truy quét tàn tích văn hoá đồi trụy phản động của Mỹ Ngụy” (đợt “truy quét” này diễn ra ở Sài gòn trước Giáng Sinh năm 1975). Nay đọc xong bài của bác Trọng Đạt, tôi liền lần mò tìm mua được nó trên Amazon online. Bởi vì, dù đã 41 năm trôi qua, tôi vẫn hiếu kỳ, muốn biết kết cục của truyện ra sao. Cuốn sách chỉ dày ngót 130 trang, bản tiếng Anh do Howard Hibbett dịch. Đây là một tiểu thuyết ngắn, cốt truyện đơn giản, nhưng tôi đọc rất chậm. Tôi phải đọc chậm, do vì chỉ mới đọc sơ những nhận xét của bác Trọng Đạt trong bài này, tôi cảm thấy có những điều bác nói nghe rất chi là “không ổn”. Phải đọc chậm cuốn này mới thấy những cái “không ổn” mà bác đã viết trong bài này. Xin đơn cử vài điều sau:

    – Trích:…” Hạc cầm Miến Điện có tinh thần CHỐNG chiến tranh và chịu ảnh hưởng giáo lý nhà Phật.”… (ngưng trích). Tưởng bác nói “chống chiến tranh” có nghĩa là phản chiến, tức là có hành vi phản đối trước và trong khi chiến tranh đang xảy ra. Chống như thế thì mới gọi là chống! Đàng này, cả sách lẫn phim đều ra đời, SAU khi nước Nhật đã bại trận và đầu hàng vô điều kiện, đất nước họ đã phá sản trắng tay, còn cái gì nữa mà “chống”? Ca tụng “tinh thần CHỐNG chiến tranh và chịu ảnh hưởng giáo lý nhà Phật” của người Nhật qua phim này thì có khác chi khen họ biết làm chuồng sau khi đã mất bò?

    – Trích: “…Một điều LẠ ở đây là phim này lấy đề tài Thế Chiến Thứ Hai, một đề tài rất ít khi thấy Người Nhật khai thác…quân đội Nhật nổi tiếng tàn ác trên thế giới nhưng phim này cho ta thấy hình ảnh người lính Nhật hiền lành, có đạo đức, đầy tình thương nhân loại…”(ngưng trích).

    Tôi thấy, người Nhật quả không có gì tốt để “khai thác” về chủ đề Thế Chiến Thứ 2. Quả là họ có kỹ thuật cơ giới cao, vũ khí tôi tân, quân đội kỷ luật, nhưng những điều mà quân Nhật đã làm ở những nơi họ chiếm đóng thảy đều là tàn nhẫn, vô nhân đạo, vô nhân tính, và vô tiền khoáng hậu, không giấy mực nào tả xiết! “Thành tích” như thế thì có gì để “khai thác”, ngoại trừ những đổ nát điêu tàn và những cuộc chém giết bừa bãi ở những nơi họ đã xâm lăng và chiếm đóng? Đã thế, bác Trọng Đạt lại quên nhấn mạnh một điều là từ cốt truyện cho đến “hình ảnh người lính Nhật hiền lành, có đạo đức, đầy tình thương nhân loại” trong truyện này, thật ra HOÀN TOÀN LÀ MỘT NHÂN VẬT CHỈ CÓ TRONG TRÍ TƯỞNG TƯỢNG, chứ không dựa vào bất kỳ một nhân vật hoặc sự kiện có thật nào. Vì, đây là một sự thật rất hiển nhiên: suốt quá trình xâm lăng và chiếm đóng của quân đội Nhật trên toàn cõi Đông Á, không có lấy một cá nhân hoặc một đơn vị lính Nhật đìển hình nào, như những nhân vật trong truyện này, làm được điều gì đó khả dĩ có tính nhân bản ở những noi họ chiếm đóng, dù chỉ một nghĩa cử rất nhỏ (1).

    Nên nhớ, người Nhật cũng có cái tật “đẹp khoe, xấu che”, như đa số loài người trên thế giới! Vì có quá ít, hoặc không có gì tốt để khoe, cho nên, nếu nền điện ảnh họ không “khai thác” gì nhiều đến Thế Chiến thứ 2 thì cũng là một chuyện BÌNH THƯỜNG và dễ hiểu, chứ không có chi là LẠ.

    – Trích: …” .. người Anh, Mỹ chỉ trích sự tàn ác của quân Nhật đối với tù binh nhưng ngược lại ở đây người Nhật không những chẳng chỉ trích người Anh mà còn cho thấy kẻ chiến thắng đối xử với ho nhân đạo, những tù binh chết cũng được họ làm lễ cầu nguyện và an táng tử tế. Lối làm phim này cho ta thấy tinh thần cao thượng của họ khi nói đến kẻ thù. Khác với Tây phương Anh Mỹ.. người Đức, Nhật khi làm phim chiến tranh với tinh thần phản chiến không khoe khoang chiến thắng…” (ngưng trích).

    Tôi có quá đáng không, khi cho rằng nhận định của bác Trọng Đạt sao quá hồ đồ và thiên vị? Hãy kể sơ một vài “thành tích” của lính Nhật ở những nơi chúng đã chiếm đóng: Lúc chiếm được Nam kinh cuối năm 1937, lính Nhật đã tàn sát hơn nửa triệu thường dân Trung Hoa vô tội, biến thành phố này thành một bãi tha ma bất tận (2); Còn ở VN, tiếng khóc từ những oan hồn của ngót hai triệu dân VN bị chết đói năm Ất Dậu (1945) chỉ vì vụ mùa năm ấy, quân Nhật bắt nông dân VN phải trồng đay thay vì trồng lúa, bác quên rồi sao, bác Trọng Đạt? (3); và còn biết bao quân nhân phe đồng minh cùng với lính thuộc địa của họ trên toàn cõi Đông Á đã bị bọn lính Nhật đối xử một cách bịnh hoạn và man rợ hoặc đã chết tức tưởi trong lúc bị chúng cầm tù suốt Thế Chiến thứ 2? Thảy đều là những chuyện CÓ THẬT và có bằng chứng hẳn hòi (4). Những gì mà tây phương và Hollywood đem lên màn ảnh để “tố cáo” chúng, thật ra chỉ có thể nói lên MỘT PHẦN RẤT NHỎ SO VỚI SỰ THẬT.

    Bác Trọng Đạt khen lính Anh “đối xử với họ (lính Nhật) nhân đạo, những tù binh chết cũng được họ làm lễ cầu nguyện và an táng tử tế”, để qua đó khen “tinh thần cao thượng khi nói đến kẻ thù” của người Nhật, rốt cuộc, bác quay qua chê bai tây phương: “Khác với Tây phương Anh Mỹ.. người Đức, Nhật khi làm phim chiến tranh với tinh thần phản chiến không khoe khoang chiến thắng”. Nghe chẳng khác gì bác nhổ ra rồi liếm lại, quả rất chướng tai!

    Chướng tai là vì Mizushima ngay từ đầu đã không có “lòng cao thượng” ấy, tức là tình nguyện ở lại để tìm chôn xác các quân nhân Nhật tử trận nằm rải rác khắp đất nước Miến Điện. Nguyên vì, TRÊN ĐƯỜNG ĐI VỀ MUDON ĐỂ NHẬP BỌN VỚI CÁC BẠN ĐỒNG ĐỘI, ĐẺ CHUẨN BỊ HỒI HƯƠNG CÙNG VỚI HỌ, Mizushima tình cờ đi qua một nghĩa trang và chứng kiến một đám tang thật trang nghiêm, có nhiều bác sĩ và y tá người Anh tham dự (trong phim thì lại có mấy bà ma-sơ Công Giáo và lính Anh). Đợi khi mọi người đã ra về, anh ta tò mò đến nhìn một phiến đá mới nhất trong nghĩa địa thì thấy hàng chữ: “ĐÂY LÀ NƠI AN NGHỈ CỦA CÁC CHIẾN SĨ NHẬT BẢN VÔ DANH”. Vì quá xấu hổ khi sau chứng kiến tận mắt lòng cao thượng của kẻ thù, anh ta bỗng giác ngộ (5). Để rồi, thay vì về Mudon để nhập bọn với đoàn quân hồi hương, anh ta cũng về đó, nhưng với mục đích là gởi cho họ lá thư từ biệt, giải thích lý do tại sao anh phải ở lại Miến Điện. Chúng ta thấy: ngay cả “lòng cao thượng” ấy, Mizushima cũng phải học từ gương của kẻ thù, chứ không phải tự mình mà có!

    Mizushima “cao thượng”, chỉ vì anh ta đã tình nguyện ở lại Miến Điện? Để làm gì? Để thu dọn một bãi chiến trường đầy đau thương và đổ nát, sau một cuộc chiến khốc liệt do chính quân đội và chiến hữu của anh gây ra. Anh ta “thu dọn” gì cho cam? Trong khi thật ra anh ta chỉ lo kiếm và chôn cất xác chết CỦA CÁC CHIẾN HỮU CỦA MÌNH, lại dùng chiếc áo cà sa và đạo phù để đốc thúc dân bản địa Miến Điện giúp mình một tay. Làm một việc THẬT RA CHỈ LÀ CHO CHÍNH MÌNH, hoặc đốc người khác làm theo đúng ý mình, thì có gì gọi là công quả? Hơn nữa, khen Mizushima đã dùng “công quả” của một cá nhân, hòng đền bù tội ác cho cả triệu quân Nhật tham tàn thì có khác gì là khen một người khéo lấy voi úp thúng? Mỉa mai hơn nữa là ở đây, voi thì có thật, nhưng thúng lẫn người úp thì chỉ là do tưởng tượng, chứ không bao giờ có thật!.

    Chướng tai là vì bác Trọng Đạt nói :” Nhật khi làm phim chiến tranh với tinh thần phản chiến không khoe khoang chiến thắng.”. Xin hỏi bác: đã là kẻ chiến bại, người Nhật có cái gì để mà khoe? Người Nhật thắng ai, thắng hồi nào?

    – Sau cùng là vài chi tiết lẻ tẻ mà bác Trọng Đạt đã nói sai: 1) Chức vụ của Mizushima trong truyện là hạ sĩ (corporal), chứ không phải là binh nhì (private) như bác đã nói (không hiểu sao, Wikipedia cũng “giáng chức” Mizushima xuống thành binh nhì?). 2) Lá thư của Mizushima dài tới 30 trang (như tác giả đã nói trong truyện), chứ không phải chỉ có “bốn, năm trang giấy” như bác nói. Riêng trong bản dịch tiếng Anh, in chữ nhỏ, lá thư bắt đầu từ trang 89 đến trang 132 mới chấm dứt. Nghĩa là thư dài ngót ngét 40 trang giấy, sau khi đã trừ đi một vài giòng thuyết minh ở giữa. Nếu Mizushima viết bằng nấy ý bằng tiếng Nhật chỉ trong “bốn năm trang giấy” thì chữ anh ta viết ắt phải nhỏ hơn cả con kiến, e rằng khó ai đọc nổi dưới ánh trăng vàng, khi con tàu của họ đang đi qua eo biển Malacca (trong truyện)!

    Vài góp ý mạo muội cùng bác Trọng Đạt nói trên, nếu lời lẽ có khiếm nhã, xin bác miễn chấp.

    Riêng tôi, tôi đã đọc và cũng đã xem phim “Harp of Burma”. Tôi rất thỏa mãn vì đã biết kết cục của câu chuyện sau 41 năm gián đoạn. Nay xin chia sẻ với các bác một vài suy tư nhỏ:

    – Truyện “Harp of Burma” chỉ là chuyện hư cấu và tầm thường. Ngoài một giải thưởng văn học cao quí Maichini Suppan Bunkasho do chính nước Nhật trao tặng, truyện này chẳng đoạt được một giải nào khác trên văn đàn quốc tế. Nhân vật Mizushima mới thật là một sản phẩm bịa đặt xuất sắc ngoài sức tưởng tượng. Bởi vì, trong thực tế, cả đoàn quân xâm lược Nhật lên đến ngót triệu lính viễn chinh, không có lấy một người có óc nhân bản giống như nhân vật Mizushima, dù chỉ giống một chút cỏn con! Hay là tôi đọc quá ít, có sách báo nào đó có đề cập đến loại nhân vật này mà tôi không biết, xin các bác vui lòng chỉ giáo. Nói nào ngay, truyện này lúc đầu được viết cho độc giả con nít Nhật. Chỉ có con nít mới tin là nhân vật Mizushima có thật hoặc giống một nhân vật có thật nào đó ở ngoài đời, chứ là người lớn thì ai mà tin, nhất là những người đã sống vào thời đó, ở những nước từng bị dày xéo dưới gót giày của quân xâm lược Nhật!

    – Ngược lại, phim “Burmese Harp” (1956) rất có sức thu hút, dù chỉ là phim trắng đen. Phim này quả đã được thực hiện xuất sắc, từ bối cảnh, cốt truyện (có thay đổi một chút), cho đến các vai diễn, kỹ xảo điện ảnh vv… Cho nên, chẳng lạ gì khi phim này đoạt vô số các giải thưởng điện ảnh quốc tế và từ đó trở nên mẫu mực cho các nhà làm phim loại này. Tuy nhiên, những giải thưởng dành cho phim này chỉ thuần về sự đề cao nghệ thuật và kỹ thuật điện ảnh. GIÁ TRỊ LUÂN LÝ VÀ ĐẠO ĐỨC TUYỆT NHIÊN KHÔNG PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN KHIẾN PHIM NÀY ĐOẠT ĐƯỢC NHIỀU GIẢI THƯỞNG!

    Hollywood có thực hiện vài cuốn phim sau này như “SCHINDLER’S LIST”, “JOHN RABE”, được đề cao và đoạt được nhiều giải thưởng điện ảnh, cũng chiếu theo những tiêu chuẩn nghệ thuật nói trên. Điều đáng nói ở đây là, những phim này dầu sao vẫn để lại những ấn tượng sâu đậm về luân lý và đạo đức cho người xem. Bởi vì, những nhân vật Oskar Schindler, John Rabe đều là những nhân vật CÓ THẬT. Cả hai đều là thương nhân và là đảng viên của Đảng Quốc Xã Đức. Cả hai đã tận dụng uy tín, tung hết tất cả tiền bạc và tài sản của mình để cứu sống hàng ngàn người. Oskar Schindler cứu được ngót 1300 người Do Thái thoát chết ngay dưới bàn tay khát máu của Đức Quốc Xã ở Âu châu. John Rabe đã cứu 200,000 ngươì Hoa thoát cuộc thảm sát tàn bạo, vô tiền khoáng hậu do quân Nhật phát động, khi chúng chiếm được Nam kinh cuối năm 1937.

    Cám ơn bác Trọng Đạt cùng các bác đã đọc bài chia sẻ này. Chúc các bác luôn vui khỏe.

    Lý Chính Luận (17/07/2016)

    Phụ chú:

    (1) Đó là nói về mặt quân sự ở chiến trường Đông Á. Về mặt dân sự ở phương trời Tây, chỉ có một người Nhật tên là CHIUNE SUGIHARA, chức vụ phó tham vụ sứ quán (vice-consul) của Nhật ở Lithuania, đã liều mạng dùng chức vụ của mình để cứu khoảng 6000 người Do Thái, bằng cách cấp chiếu khán quá cảnh (transit visa) cho họ. Sáu ngàn người Do Thái này, cùng thân nhân đi kèm, nhờ đó đã cao bay xa chạy, thoát khỏi lưỡi hái tử thần của bọn quốc xã Đức.

    (2) Xin đọc cuốn “The Rape of Nanking” của Iris Chang (xb1997).

    (3) Xin xem đoạn video này: https://www.youtube.com/watch?v=9KdeaPq7Pac

    (4) Xin đọc cuốn “Unbroken” của Laura Hillenbrand (xb 2010). Cuốn này đã được đóng thành phim, mang cùng tựa đề (2014).

    (5) Harp of Burma (Tuttle Publishing 1966), tập cuối “The Monk’s Letter”, chương 5, trang 123.

    • khach' qua duong` says:

      Bác TĐ khoe khoang hiểu biết về phim ảnh, còn bác Lý Chính Luận thì khoe khoang quá xá, vừa khoe khoang kiến thức về lịch sử, văn chương văn hóa, cả kiến thức điện ảnh…. đến chỗ LỐ BỊCH, một comment mà dài hơn cả bài chủ ít ai có can đảm đọc hết comment của bác
      Xem ra bác Lý chính Luận khoe khoang gấp 10 lần bác Trọng Đạt, t/g TĐ chỉ kể truyện phim theo phim nên thua xa bác Lý vì bác đọc cả truyện coi cả phim, nhưng khen chê phim hay người Nhật là tùy mỗi người
      Bác Lý đừng lý luận theo kiểu CS,bắt người khác phải nghĩ, phải nói theo ý mình, mỗi người có quyền tự do
      Bác Lý bớt NỔ, bớt khoe đi một tí thì bà con đỡ khổ

    • Lan Pham says:

      Cám ơn LCL. Cũng cám ơn TĐ luôn vì nhờ bài viết của TĐ mà chúng ta được đọc những “không ổn” mà LCL nêu lên.

    • TD says:

      Tôi đọc phản hồi của ông Lý chính Luận thì thấy quá dài, để khỏi làm phiền quí độc giả tôi chỉ xin vắn tắt
      Thú thật chẳng hiểu ông nói gì, mới đầu ông ca ngợi cuốn truyện rất cao, xong phía dưới ông chê bai, chửi bới truyện cho là tưởng tượng, xỉ vả chuyện rồi chê TĐ là hồ đồ, ông thử ghĩ xem ông hồ đồ hay ai hồ đồ? vì phim ảnh tiểu thuyết dựa trên truyện thật và thêu dệt hư cấu thêm
      Bài viết về phim ảnh, một bài phê bình điện ảnh, nếu góp ý thì chỉ nên nói về khía cạnh điện ảnh, ông lại khoe đã đọc truyện và kể lể trong comment rất dài dòng về truyện, thật là lạc đề, chẳng cần thiết phải khoe khoang như thế, ông kể lể về cuốn truyện để làm gì? trong bài TĐ nói theo truyện phim, ông lại bắt bẻ t/g nói sai truyện, thật hơi vô duyên, t/g chỉ nói theo truyện phim do nhà đạo diễn kể ra đâu cần phải nói theo truyện, đâu cần đọc chuyện làm gì?
      Ông nói nhiều về lịch sự, thế chiến.. những chi tiết này độc giả có thể search trên google có đầy đủ và chính xác hơn, ông khoe khoang làm gì cho mất thì giờ người đọc?
      Có một chi tiết ông nói sai, một đai sứ Nhật tại Albani trước Thế chiến thứ 2 đã cứu 3,000 người Do thái bằng cách cấp passeport cho họ, ông search lại trên mạng cho rõ

      Ông lên án quân Nhật tàn ác, chẳng liên quan gì tới bài viết, một bài về điện ảnh. Quân xâm lăng thì có quân nào hiền, quân Pháp đốt nhà, cướp bóc, hãm hiếp, quân Anh bắn người hàng loạt (phim Gandhi), quân Tầu tàn sát dân Việt năm 1979, 80, quân Nga tàn sát, hãm hiếp Đông Âu năm 1945….
      Những chi tiết trong phản hồi quá dài, quá luộm thuộm, không liên quan đến bài viết về điện ảnh, khoe khoang kiến thức không cần thiết để làm gì? người đọc cũng chẳng ai để ý tới, có ai bỏ thì giờ đọc một comment dài luộm thuộm khoe khoang chữ nghĩa?

  3. noileo says:

    Dù người Anh hay người Nhật đóng tại đây, nước Miến Điện vẫn là xứ Phật”.</i

    Đó là chuyện ở Miến Điện, người Miến Điện, người Anh, người Nhât.

    Chuyện ở Việt nam thì có hơi khác. Nước ViệtNam do người Việt tự do điều hành, tử tế, khác với nước Việt Nam dưới ách cai trị cộng sản của người Việt nam Hồ chí Minh & Hồ cá tra

    Dưới sự điều hành của người Việt tụ do, Việt nam Cộng hòa là một quốc gia dân chủ tự do, riêng về phương diện tôn giáo thì hoàn toàn là tự do tín ngưỡng. Tín đồ đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Hòa Hảo, đạo Hồi… hoàn toàn tự do hành đạo

    Dưới ách cai trị Việt cộng, dù Việt cộng cũng là người Việt (ít ra cũng là người Việt xét trên phương diện màu da, nước tóc, chứ không phải là thực dân Anh, không phải là phát xít Nhật), tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt nam Dân chủ Cộng hòa từ 1954 đến 1975 (từ 1975 mang code name "CHXHCNVN") con đẻ của hiệp định giơ ne vơ 1954 ô nhục, do Hồ chí Minh dựa vào sự chống lưng đỡ đầu của Trung cộng, ly khai Việt nam & Quốc Gia Việt nam, dựng nên tại miền bắc Việt nam, là một địa ngục trần gian.

    dưới ách cai trị của thực dân Anh, người Hồng Kông đã xây dựng được một nền chính trị dân chủ tự do pháp trị,

    dưới ách cai trị Việt cộng, Việt nam là một địa ngục trần gian đối với người nghèo, đối với người dân thấp cổ bé miệng,

    dưới ách cai trị Việt cộng, Việt nam là một địa ngục trần gian đối với nhân quyền, tụt ḥậu về mọi phưong diện tôn giáo, tín ngưỡng, kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục…

  4. DẶM NGÀN says:

    CHIẾN TRANH VÀ TÌNH NGƯỜI

    Chiến tranh thường chỉ nhân danh
    Vài người khởi xướng triệu người hùa theo
    Nhân danh mượn cớ đủ điều
    Cốt sao thỏa mãn bản năng vạn đời

    Tranh giành điều lợi thế thôi
    Vãi luôn vãi đúng sãi thời sãi hay
    Chỉ thương binh lính tồi tàn
    Lăn vào chỗ chết mới càng đau thương

    Với bao tàn ác chiến trường
    Tình người xóa hết bản năng dậy lừng
    Chỉ do một mất một còn
    Bóp cò nhanh hoặc số còn thế thôi

    Cỏ xanh ngực đỏ đều rồi
    Chỉ còn tờ giấy hoặc còn huân chương
    Khen lao che đậy đoạn trường
    Con người càng gạt thêm lần nữa nhau

    Thế nên hỉ xả một màu
    Phải nhằm cố tránh từ đầu chiến tranh
    Còn khi đã xảy ra xong
    Dễ lòng bác ái dễ lòng từ bi

    Tình thương khi ấy còn gì
    Chỉ còn thù địch khác chi trên đời
    Hoặc khi chiến trận xong rồi
    Tình người mới có giữa lòng nhân gian

    NON NGÀN
    (29/5/16)

Phản hồi